|
Trại cá tra sạch, nuôi theo qui trình organic của Naturland, An Giang
Dự án PPP của GTZ nhằm triển khai nuôi cá tra sạch tại An Giang với sự cộng tác của Binca Seafood, Naturland và các trại cá (Lam Son) đã thực hiện thành công và đồng thời cũng nêu được 3 khía cạnh cụ thể như sau:
- Dựa án tạo ra một thị trường cá sạch đang dần lớn mạnh từng bước một qua số lượng cá sản xuất mỗi năm mỗi tăng và khách mua hàng ngày càng quan tâm đến sản phẩm cá sạch của Việt Nam
- Với sản phẩm cá sạch, lãi xuất của người nuôi trồng tăng thêm 15% so với cách nuôi truyền thống. Bên cạnh đó sản phẩm được bao tiêu trọn gói bởi khách hàng. Ngày càng nhiều nông dân và các nhà sản xuất quanh vùng đến tham quan và học hỏi cách thức nuôi trồng.
- Chuỗi cá sạch hiện nay đang tích hợp các sản phẩm nông nghiệp sạch quanh vùng vào chuỗi thực phẩm sạch cho cá. Đây là mộy điểm quan trọng trong quá trình nuôi cá sạch, vì cho đến nay thực phẩm sạch phần nhiều được nhập từ các nước như Campuchia và Trung Quốc!
Liên hệ:
Chlorophyll ltd.
25 B Tran Van Hoang - F9, Tan Binh Dist. - Ho Chi Minh City, Vietnam
Tel.: +84 (0) 8 29 65 156 - Fax: +84 (0) 8 86 49 515
Lam Son ltd.
106A/6 Phan Bội Châu - p.Bình khánh, TP.long xuyên - An Giang, Vietnam
Tel.: +84 (0)76 852737 - Fax: +84 (0) 76 955159
|
|
|
Nuôi cá tra thịt trắng xuất khẩu là một tiêu chuẩn bắt buộc. Chị Phạm Ngọc Xuân ở xã Mỹ Hòa, TP Long Xuyên (An Giang) đã có kinh nghiệm nuôi cá tra xuất khẩu thành công trong ao đất.
Chọn vùng đào ao nuôi
Chọn vùng có nguồn nước dồi dào, dễ cấp và thoát nước cho cả mùa khô lẫn mùa mưa. Không nên nuôi gần những khu nuôi trồng tập trung để tránh bệnh cá từ các vùng nuôi khác. Theo chị Xuân, ao nuôi càng rộng khả năng trao đổi oxy càng nhiều, cá ít bị bệnh. mau lớn, khoảng từ 5.000 m2 trở lên. |
|
|
ĐBSCL có hơn một nửa số tỉnh nuôi cá tra, basa bè. Kinh nghiệm nuôi cá bè của nông dân đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc. Tuy nhiên, sản phẩm cá tra, basa nuôi theo phương pháp sạch đang ngày càng được thị trường ưa chuộng và cần được nông dân áp dụng.
|
|
MỘT SỐ BỆNH CỦA CÁ TRA VÀ BASA NUÔI TRONG BÈ VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Nuôi cá bè là một trong những kỹ thuật nuôi thâm canh có hiệu quả. Nhưng do nuôi mật độ cao và cung cấp một lượng lớn thức ăn, nên dẫn đến môi trường trong bè và xung quanh dễ dàng bị ô nhiễm và là điều kiện để bệnh cá bộc phát, lây lan gây thiệt hại cho người nuôi. Theo điều tra hàng năm ở khu vực nuôi cá bè đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ hao hụt mà chủ yếu do bệnh cá gây chết ở cá basa nuôi bè là 15%, có khi lên tới 30 - 40% (1).
|
|
1. Thiết kế và xây dựng bè.
Bè nuôi cá ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long thường được kết hợp vừa là bè cá vừa là nhà ở.
Dựa vào thời gian sử dụng mà chia ra 2 nhóm bè: bè kiên cố và bè tạm thời.
Nhóm bè tạm thời thường nhỏ và được đóng bằng tre hoặc loại gỗ chịu nước kém.
Bè cỡ trung và cỡ lớn thường nằm trong nhóm bè kiên cố. Các bè này được đóng bằng gỗ tốt và chịu nước như gỗ sao, vên vên, căm xe, chò chỉ, dầu, bằng lăng. Loại bè này đủ sức chịu đựng được với điều kiện sóng gió, nước chảy và khá bền, có khi tới 50 năm Việc đóng mới các loại bè kiên cố hiện nay cũng gặp khó khăn do khan hiếm các loại gỗ tốt. Vì vậy có một số bè mới được thiết kế bằng các loại vật liệu mới như bè ximăng lưới thép ...
Bè nuôi cá thường có dạng hộp chữ nhật, ngoại trừ một số bè cỡ nhỏ dùng cho ương cá giống thì có dạng hộp vuông. Người nuôi cá bè cho rằng dạng bè hộp chữ nhật dễ dàng trong chọn gỗ thiết kế và quản lý sử dụng. Ngoài ra dạng này cũng phù hợp cho việc làm nhà trên bè theo truyền thống và cũng là nơi chế biến thức ăn, nhà kho, chuồng chăn nuôi...
|
|
|
|