Home arrow Tin tức arrow Nachricht arrow Tiêu chuẩn chất lượng nào cho sản phẩm cá tra, ba sa ĐBSCL?
Tiêu chuẩn chất lượng nào cho sản phẩm cá tra, ba sa ĐBSCL? | In |
Trong những năm qua, cùng với con tôm, sản phẩm cá tra, ba sa ĐBSCL đã khẳng định thế đứng trong xuất khẩu thủy sản cả nước. Tuy nhiên, những rào cản kỹ thuật ngày càng gia tăng từ nhiều quốc gia đang đòi hỏi nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa phải có một chiến lược phát triển mang tính bền vững cao hơn. Trong đó, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế là một đòi hỏi cấp thiết. 
VÒNG LẨN QUẨN:

Theo Ban điều hành sản xuất và chế biến cá tra, ba sa Việt Nam, trong năm 2005 sản lượng nuôi cá tra, ba sa ở ĐBSCL đã đạt hơn 400.000 tấn, chiếm 40% sản lượng thủy sản cả khu vực. Kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá ba sa đạt 300 triệu USD, chiếm 11% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành thủy sản, đã chứng minh tầm quan trọng của nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa tại ĐBSCL. Tuy nhiên, với đòi hỏi ngày càng cao của thị trường thế giới, nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa cần phải được nâng chất và đi theo một định hướng ổn định, bền vững hơn. Đó là áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong chăn nuôi và chế biến.

Có thể nói, tiên phong trong vấn đề này là Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (AGIFISH). Việc công ty thành lập liên hợp sản xuất cá sạch theo tiêu chuẩn quốc tế SQF 1000CM cho vùng nuôi, bước đầu khẳng định một bước đi đúng đắn. Tiếp theo đó, công ty được cấp chứng nhận SQF 2000CM đã thật sự tạo một bước ngoặt mới trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cho nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa ở ĐBSCL. Hàng loạt các liên hợp sản xuất cá sạch NAVICO, AFIEX ra đời với tiêu chuẩn chất lượng SQF 1000CM cho vùng nuôi đã thật sự mang lại sắc thái mới cho người nuôi. Bà con ngư dân đã làm quen với việc nuôi cá đạt chất lượng quốc tế để bảo đảm cho mình có một đầu ra ổn định.

Có thể nói, việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế vào sản xuất và chế biến cá tra, ba sa xuất khẩu đang là một xu hướng bắt buộc và một yêu cầu cần thiết để nghề nuôi và chế biến thủy sản khu vực ĐBSCL chuẩn bị cho quá trình hội nhập. Việc Công ty Binca (CHLB Đức) phối hợp với Công ty AFASCO (An Giang) triển khai chương trình nuôi cá sinh thái theo tiêu chuẩn Naturland với lợi nhuận rất cao. Nhưng kèm theo đó là những đòi hỏi rất khắt khe của nhà nhập khẩu. Từ đây, một vấn đề lớn đang đặt ra cho nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa là thực hiện theo tiêu chuẩn quốc tế nào để phù hợp và bảo đảm mang tính bền vững. Mới đây, trong hội thảo ?An toàn chất lượng sản phẩm cá tra, ba sa Việt Nam đáp ứng yêu cầu thị trường thực phẩm thế giới?, Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng khẳng định: Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong sản xuất và chế biến cá tra, ba sa Việt Nam là một việc làm cấp thiết và phải làm trong thời gian tới.

Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi treo lơ lửng và chưa có lời giải đáp đó là phải theo tiêu chuẩn nào? Một tiêu chuẩn cho từng thị trường hay một tiêu chuẩn chung... Câu hỏi vẫn chưa có lời giải.

CẦN THIẾT MỘT TIÊU CHUẨN CHUNG

Việc làm quen với các tiêu chuẩn quốc tế lại một lần nữa đặt nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa khu vực ĐBSCL trước một thách thức lớn: Một tiêu chuẩn chung hay chạy theo tiêu chuẩn của từng thị trường? Hiện nay, tiêu chuẩn SQF 1000CM và SQF 2000CM trong chế biến đang rất thịnh hành và được các doanh nghiệp chú trọng phát triển. Song, đây vẫn là tiêu chuẩn tập trung cho sản phẩm vào thị trường Mỹ. Trong khi đó, các thị trường như EU, Nhật, Úc thì lại đòi hỏi các tiêu chuẩn khác như GAP, BAP và một số tiêu chuẩn khác mà nhà nhập khẩu tự đặt ra để phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Ông Nguyễn Tử Cương, Cục Trưởng Cục Quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh và thú y thủy sản, cho biết: ?Hiện nay chưa ai bắt chúng ta phải theo quy định của họ. Chúng ta đang trong giai đoạn tìm hiểu yêu cầu của nhà nhập khẩu, từ đó chấp hành và tuân thủ theo. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, chúng ta phải đáp ứng được quy định của thế giới, không thể cứ chạy theo tiêu chuẩn của từng thị trường?.

Từ thực tế thị trường, các tiêu chuẩn quốc tế đang phân thành 2 loại rõ rệt mà nhiều doanh nghiệp đang chạy theo. Đó là các tiêu chuẩn mang tính luật và bắt buộc tất cả đều phải tuân thủ nếu muốn đưa hàng ra thế giới. Bên cạnh đó còn một tiêu chuẩn do người mua đặt ra. Ông Nguyễn Tử Cương cho biết thêm: ?Nếu chúng ta áp dụng tiêu chuẩn SQF thì chỉ tập trung cho vùng nguyên liệu. Còn các vấn đề như: môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm... buộc chúng ta phải có một tiêu chuẩn áp dụng chung. Như thế sẽ đáp ứng được tất cả các thị trường?.

Thứ trưởng Bộ Thủy sản Nguyễn Việt Thắng cho biết: ?Vừa qua, chúng ta áp dụng nhiều tiêu chuẩn quốc tế khác nhau như Naturland, SQF, GAP cho sản phẩm cá tra, ba sa bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu thị trường thế giới. Nhưng phải nhìn nhận một cách chính xác để chúng ta có giải pháp phát triển bền vững. Đó là các tiêu chuẩn quốc tế đang được áp dụng đều có điểm chung cơ bản dựa trên nền tảng HACCP và ISO để giải quyết những mối nguy đối với các sản phẩm thủy sản, như an toàn thực phẩm, bệnh ? bệnh dịch phát triển, môi trường sinh thái... Các tiêu chuẩn đều có chung mục tiêu là: an ninh sinh học và truy xuất nguồn gốc, môi trường bền vững, trách nhiệm xã hội và tạo ra sản phẩm bảo đảm vệ sinh an toàn cho người tiêu dùng ? đây cũng chính là những đòi hỏi của thị trường?.

Cũng vấn đề này, ông Nguyễn Tử Cương khẳng định: Trước hết, chúng ta sẽ đi từ môi trường và con giống. Năm 2006, Bộ Thủy sản sẽ bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn GAP vào các trại giống, đồng thời hướng dẫn người nuôi để không xảy ra dịch bệnh. Dùng thuốc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo vệ môi trường. Năm 2007, áp dụng tiêu chuẩn này như là điều kiện bắt buộc trong chăn nuôi thủy sản tại Viêt Nam.

Có thể nói, việc áp dụng tiêu chuẩn GAP vào chăn nuôi thủy sản là một bước đột phá, vì đã giải quyết được mối nguy đầu tiên từ người chăn nuôi. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để bảo đảm an toàn ?từ con giống đến bàn ăn?. Và một tiêu chuẩn chung trên cơ sở tìm sự đồng thuận liên thông và thừa nhận lẫn nhau giữa các tiêu chuẩn quốc tế đang là một vấn đề cấp thiết để áp dụng vào nghề nuôi và chế biến cá tra, ba sa ở ĐBSCL.

Bài, ảnh: BÌNH NGUYÊN
Nguồn: Báo Cần Thơ

Comments
Search
Only registered users can write comments!

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."

 
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>
< Trước   Tiếp >

Naturland

Tài liệu về Naturland,
Sau đây là các tài liệu thông tin về Naturland Đức ( tài liệu tiếng Anh)
Quy trình đăng ký, nuôi trồng và sản xuất theo chất lượng của Naturland đề ra cho các lãnh vực sẽ được cập nhật thưởng xuyên, Nếu Quí vị có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp với  Công Ty Diệp Lục ( Chlorophyll Ltd. )
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>

Vermiculture, nuôi trùn

Trùn đất là loại động vật cần cho chăn nuôi nhất là nuôi gà vịt trong hộ gia đình . Nó là nguồn đạm tốt cho gà vịt.
 Theo Fosgate (1972) nếu trùn được sấy khô nghiền bột , nó là loại thúc ăn bổ sung đạm giàu protein , có các aminoaxít cân đối và một lượng khoán hợp lý. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của trùn đất cho thấy:

Môi trường

Thủy triều đỏ (red tide), hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml)
Newer news items
Older news items
<< Previous Page