Để thực hiện dự án này cả 2 phía Việt Nam và Canada đều phải có chuyên gia tham gia trong nhóm tư vấn. Từ khi dự án được ký kết năm 2005 đến nay, phía Việt Nam vẫn chưa chọn được người tham gia vào dự án. Và khi tôi về nước làm việc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn liền mời tôi tham gia vì đây chính là chuyên môn của tôi. Hồ sơ được gửi sang Canada và phía bạn đồng ý ngay. Vừa rồi chúng tôi đã làm một chuyến khảo sát thực địa các tỉnh phía Nam để từ đó đưa ra kế hoạch cho dự án. - Khi làm việc với đối tác nước ngoài, anh thấy mình có lợi thế gì?
Trước hết là trong đoàn chuyên gia Canada không có người nào nắm chuyên môn về rau, họ vốn là chuyên gia về thú y. Vì vậy, sự góp mặt của tôi trong đoàn là hết sức quan trọng bởi nếu khi đi thực địa mà mình lại không có chuyên môn về lĩnh vực cần khảo sát thì thật khó lòng thấy được những yếu điểm của nó. Tôi cũng đã góp ý với phía bạn và họ đồng ý sẽ bổ sung chuyên gia về lĩnh vực rau quả. Đây là điều hết sức quan trọng, bởi chúng ta cần biết rằng, mỗi năm người dân Hà Nội tiêu thụ khoảng 300.000 tấn rau, nhưng chủ yếu là rau được sản xuất ở khu vực Thanh Trì, nơi bị ô nhiễm nặng. Tại TP.HCM, chỉ có 30% rau có nguồn gốc an toàn, trong khi đó có tới 85% nguồn nước giếng nhiễm kim loại nặng. Đây là vấn đề đáng báo động.
Một lợi thế nữa khi tôi được đại diện phía Việt Nam làm việc với đối tác nước ngoài là mình nắm vững ngoại ngữ, trình bày rõ ràng, mạch lạc, hiểu được điều họ định nói để có những đóng góp với đối tác. Đây không chỉ là lợi thế của riêng tôi, mà là của các trí thức Việt kiều nói chung vì chúng tôi có điều kiện sống và làm việc với người nước ngoài nhiều năm nên hiểu họ hơn các chuyên gia trong nước. Thực tế, khi đi thực địa, nhờ có chuyên môn và khả năng ngoại ngữ mà trong việc trao đổi với đối tác, chúng tôi dễ dàng trao đổi với nhau, phía đối tác cũng dễ nắm bắt vấn đề hơn là phải thông qua phiên dịch.
- Dự án này sẽ thành công phải không thưa tiến sĩ?
Chắc chắn phải thành công. Và đây sẽ là một hình mẫu để chúng ta nhanh chóng đạt được mục tiêu về nông sản an toàn. Bởi chúng ta không chỉ giải quyết vần đề rau an toàn, mà còn là một vấn đề SOS của cả dân tộc. Thử hình dung xem, nếu chúng ta không dám ăn rau nữa và giáo dục con em bỏ thói quen ăn rau vì sợ ngộ độc, chúng ta sẽ mất đi một nguồn cung cấp vitamin và khoáng chất dồi dào từ rau quả. Chúng ta có lợi thế là nhận được nhiều nguồn tài trợ từ nước ngoài, nhưng chúng ta cũng gặp khó khăn là thiếu cơ sở vật chất (các cơ sở kiểm định, trung tâm nghiên cứu…) nên rất dễ dẫn đến tình trạng bỏ dở giữa chừng. Làm thế nào để sử dụng tối đa tiền tài trợ vào mục tiêu của dự án cũng là điều quan trọng, vì hiện nay kinh phí tài trợ còn được dùng vào hội họp, vào công tác quản lý quá nhiều. Trong khả năng của mình, tôi sẽ cố gắng đưa 80% kinh phí của dự án phục vụ cho công việc.
- Có vẻ bức tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam rất ảm đạm?
Ồ không! Thấy vậy chứ không hề đen tối đâu. Nếu biết cách làm thì chúng ta sẽ tiến rất nhanh. Hiện nay các nước trong vùng có ASEAN GAP để thích ứng. Ta cũng biết rằng quy trình nông nghiệp an toàn GAP là chìa khóa thành công cho ngành rau quả không chỉ cạnh tranh trong nước mà cả xuất khẩu ra nước ngoài, vì thế chúng ta cần nhanh chóng xây dựng Viet GAP để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh. Bởi thực tế cho thấy, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu rau đạt hiệu quả thấp, xuất khẩu được 240 triệu USD thì phải dành 120 triệu USD nhập giống. 60% trong số này hoàn toàn phụ thuộc vào các công ty nước ngoài.
Chúng ta cũng đã đi tắt đón đầu nhờ lợi thế đi sau bằng cách du nhập, thử nghiệm, cải thiện để ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới để xây dựng một nền khoa học kỹ thuật nông nghiệp thích hợp. Nếu như năm 1995 kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản của Việt Nam đạt 1,3 tỉ đô la Mỹ thì năm 2005 đã đạt 5,7 tỉ đô la Mỹ. Nhưng trong quá trình phát triển để hội nhập này, nông nghiệp Việt Nam đã bộc lộ những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng mặt hàng và khâu an toàn vệ sinh, đặc biệt nhất là “tay nghề” của thành phần sản xuất chủ lực - nông dân - chưa được nâng cao ngang tầm của một nước mạnh về xuất khẩu nông sản. Vì thế, chúng ta cũng phải nhanh chóng nghĩ ra cách đưa chất xám vào nông thôn và điều đó phải gắn với việc “chuẩn hóa” từ tổ chức sản xuất tới chợ, có như thế thì mới xây dựng được tính bền vững cho ngành nông nghiệp Việt Nam vốn vẫn còn rất bấp bênh như hiện nay.
- Xin cảm ơn tiến sĩ! TỐ PHƯƠNG thực hiện
Only registered users can write comments!
Powered by !JoomlaComment 3.26
3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved." |
|||||||||
- Hội chợ Vietfish 2008 tại Tân Bình TP HCM -13/06/2008
- Bắt đầu giải ngân nguồn vốn để "cứu" cá -08/06/2008
- An Giang: năm 2008 nuôi 200.000 tấn cá tra “sạch” -19/04/2008
- Danh sách công ty VN tham gia hội chợ thủy sản tại Bỉ 2008 -18/04/2008
- Thuỷ sản Việt Nam được chú ý tại Triển lãm Hải sản châu Âu (Euro Seafood Exposition 2008) -10/04/2008
- Tiêu chuẩn chất lượng nào cho sản phẩm cá tra, ba sa ĐBSCL? -08/03/2008
- Thương hiệu “sạch” ra xứ ngoại -08/03/2008
- Cá Tôm Và Chất Malachite Green -07/03/2008
- Geduld ist die Devise -16/02/2008
- U-Bahn-Bau in Vietnam sorgt für Streit in Berlin -12/02/2008
| < Trước | Tiếp > |
|---|
Naturland
Tài liệu về Naturland,
- Thế giới xanh kỳ diệu -16/07/2008
- Cá sạch đang thịnh hành -28/06/2008
- Hội chợ Vietfish 2008 tại Tân Bình TP HCM -13/06/2008
- Bắt đầu giải ngân nguồn vốn để "cứu" cá -08/06/2008
- An Giang: năm 2008 nuôi 200.000 tấn cá tra “sạch” -19/04/2008
- Thuỷ sản Việt Nam được chú ý tại Triển lãm Hải sản châu Âu (Euro Seafood Exposition 2008) -10/04/2008
- Rất cần một GAP cho nông sản Việt Nam -16/03/2008
- Tiêu chuẩn chất lượng nào cho sản phẩm cá tra, ba sa ĐBSCL? -08/03/2008
- Thương hiệu “sạch” ra xứ ngoại -08/03/2008
- Cá Tôm Và Chất Malachite Green -07/03/2008
Vermiculture, nuôi trùn
Môi trường
- Nuôi cá tra, basa sạch trong bè -08/06/2008
- Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị khi nuôi cá tra (3) -08/06/2008
- Kĩ thuật nuôi cá tra và cá basa trong bè (2) -08/06/2008
- Kỹ thuật nuôi cá basa và cá tra (1) -08/06/2008
- Cá tra xuất khẩu vẫn còn khó khăn -08/06/2008
- Xây dựng tiêu chuẩn nuôi cá sạch -08/03/2008
- Cá tra rớt giá thảm hại -28/02/2008
- Cá tra, basa sẽ đạt tiêu chuẩn quốc tế vào 2007 -28/02/2008
- Xây dựng quy trình nuôi cá tra thịt trắng phục vụ xuất khẩu -02/08/2007
