Home arrow Aquakultur arrow Cá bống tượng arrow Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá bống tượng thương phẩm
Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá bống tượng thương phẩm | In |
Mục lục bài viết
Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá bống tượng thương phẩm
tiếp theo
 

B. Kỹ thuật nuôi CBT thương phẩm

1. Nuôi CBT ở ao:

a. Chọn ao nuôi CBT:

Có vị trí phải gần nơi có nguồn nước sạch dồi dào, cung suốt thời gian nuôi cá (nước pH 7-8,3, nước không bị nhiễm độc, nước có cây), ao có nước lưu thông tốt thì nuôi mật độ nuôi càng cao. Đất phải giữ được nước, đất không có phèn tiềm tàng. Ao có nước thủy triều lên xuống hàng ngày nuôi cá càng tốt. Ao có diện tích 50-2000m vuông tốt nhất 300-400m vuông, nước sâu trung bình 1,5-1,8m.

b. Cải tạo ao nuôi CBT:

+ Sên vét sình bùn còn đến đáy trơ, nơi không có nước phù sa, đáy ao còn lớp bùn loãng 0,1m.

+ Xâm chặt các hang, mội, tu sửa bờ đập cao hơn mực nước cao nhất hàng năm 0,5m.

+ Ao có bộng, đầu cấp nước vào, đầu thoát nước ra càng tốt. Nếu bộng ở về một phía thì có bộng dưới thoát nước đáy ao ra, bộng trên lấy nước từ mặt sông vào hoặc có thể làm một bộng nhựa ở sát đáy ao có co điều tiết nước theo yêu cầu.

+ Bón vôi bột 7-15kg/100 m vuông ao tùy đất ao phèn nhiều ít, phơi nền đáy ao được 3-7 ngày càng tốt.

c. Giống CBT:

- Chọn giống CBT tốt: cá đều cỡ, cá khỏe mạnh, không thương tật, dị hình, cá không bị chích điện, mắc câu, mắc lưới.

+ Đầu và mình cá cân đối, màu sắc sáng rõ. Cá không có vết trầy, vết do các vật bám, nguyên đuôi và vi, cá còn nguyên nhớt. Bụng và rốn cá không đỏ. Cá không có ký sinh trùng đeo bám. Lật ngửa cá lên thì thấy cá phồng mang, đuôi xòe. Cá đang ở trong nước thì nằm sát đáy. Ngâm cá vào xanh metylen thì không có vết thấm màu.

Chọn giống CBT tốt để nuôi có ý ngĩa rất quan trọng cho thành công nuôi cá, nếu còn cá yếu, cá bệnh sẽ lây lan cả đàn cá nuôi. Khi đem CBT về, không nên thả thẳng vào nơi nuôi mà tiếp tuyển chọn lần cuối: Cho các vào một phạm vi nhỏ một góc ao mương, thời gian 10-15 ngày, cho cá ăn đủ, kiểm tra cá khỏe, tốt thì thả nuôi chung với nhau.

- Cỡ CBT đều cỡ: 50-70g, 80-100g, 110-150g, 160-200g nuôi chung một nơi cá lớn đều hơn.

+ Mật độ cá nuôi 3-10 con/m vuông: Nơi nước lưu thông liên tục 8-10 con/m vuông, nơi nước lưu thông theo thủy triều 4-5 con/m vuông, nơi có nước lưu thông ít 1-2 con/m vuông. Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

- Trong ao nuôi CBT còn thả nuôi ghép cá tép làm thức ăn ở tại chỗ cho cá:

+ Ương nuôi tép ở ao nuôi CBT.

+ Ương nuôi cá sặt bướm, cá bảy màu chung với CBT.

+ CBT sống ở đáy, thích ăn các loài cá sống ở đáy: cá trôi Ấn Độ, cá hường. Thả thử 10% cá sống làm thức ăn, sau 5 ngày cá trôi và cá hường không còn, riêng cá mè Vinh còn một phần. Nếu các giống cá trên giá thành sản xuất 5000-7000đ/kg, hệ số thức ăn là 6 thì nuôi CBT vẫn còn lời.

d. Cho CBT ăn:

- Nuôi ghép cá tép tạo thức ăn ở tại cỗ cho CBT.

- CBT thích ăn thức ăn tươi sống, thức ăn ương thối cá không ăn, cá có ướp chất hóa học cá thường bị bệnh, cắt thức ăn vừa cỡ cho cá ăn, bỏ ruột.

- Tùy thực tế mà tăng giảm lượng thức ăn, cho ăn thức ăn vào sàn, kiểm tra sau 1 giờ, cho cá ăn ngày 3 lần sáng, chiều và tối.

- Cỡ cá nhỏ hơn 10g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 8-12.

- Cỡ cá  10-12g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 6-10.

- Cỡ cá 20-50g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 4-8.

- Cỡ cá 50-100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3,5-6.

- Cỡ cá 100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3-5.

e. Quản lý chăm sóc CBT nuôi:

- Thường xuyên thay nước sạch cho CBT, loại bỏ nước dơ: nếu sử dụng nước thủy triều thì khi nước ròng 2/3 sông chênh lệch nước ao và sông lớn, rút bộng ra nước chảy mãnh thải các chất dơ từ đáy ao ra sông. Khi nước lớn 2/3 sông, lấy nước mới vào, nước sông lớn đã hòa loãng giảm độ dơ, lấy nước sạch vào ao, kích thích cá phat triển. CBT nuôi ở nước tốt lớn nhanh hơn nước xấu, nuôi ở nước lưu thông lớn nhanh hơn nước tĩnh 24-29% và nước lưu thông nhiều nuôi mật độ càng cao.

- Đảm bảo chất lượng thức ăn là động vật cho CBT là tươi, không ướp hóa chất, số lượng cho ăn đủ, không để thức ăn dư.

- Tạo điều kiện cho cá bắt mồi liên tục, ngày và đêm: cá thường sống ở đáy làm thức ăn tự nhiên cho cá hoặc đưa cá sống từ đáy ao sang mé ao, bằng tạo mé cỏ tối nước nước dầy ở từng đoạn mương ao (thả lục bình ở nơi yên tĩnh). Khi cá đã sống ở mé ao, cá giảm bệnh, cá tép con ban ngày trú vào rong cỏ sẽ làm mồi ăn trực tiếp cho CBT. Nuôi CBT mà cá không có đớp mồi ban ngày là điều kiện sống ở ao mương chưa tốt.

- CBT là cá dữ nhưng nhát, ban ngày nằm sát đáy ao, hay hốc nên dễ bệnh ký sinh trùng (mỏ neo, rận cá,...) làm cá chậm lớn. Dùng lá xoan bó thành bó treo ở đầu cống nước ra vào hoặc dùng Dipterex (Dipterex la thuoc thu y thuy san da duoc bo thuy san cam su dung trong san xuat kinh doanh thuy san theo quyet dinh 07/2005/QD-BTS ngay 24/02/2005) liều lượng 0,7-10g/m khối nước tắm cá 10-15 phút, sau đó cho nước mới vào, cứ 3 ngày làm một lần đến khi cá hết bệnh.

- Nuôi CBT ở ao nếu tạo điều kiện cho cá ăn và nước tốt, lưu thông thì cá lớn như nuôi ở bè, cá ít bệnh so với bè.

f. Thu hoạch CBT:

- Thu tỉa thì dùng lọp, thả mồi bắt.

- Thu cuối vụ thì tát cạn, CBT thường lặn sâu vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ CBT có ở ao, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng CBT ngóc nằm ở mặt bùn, dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

2. Nuôi CBT ở ao gắn với bè lồng:

Do điều kiện nuôi ở từng nơi, nuôi ở lồng thì vào mùa khô lượng nước ở sông rạch thấp, nước thường bị ô nhiễm, nuôi CBT thường dễ bị bệnh và cá chậm lớn, thời gian này lồng bè thường được sửa chữa và nuôi loại cá khác. CBT thịt được nuôi ở ao vào thời gian này, cá đạt cỡ 200-300g. Khi nước ở sông rạch tốt, đưa cá nuôi từ ao mương ra lồng bè nuôi vỗ béo để cá lớn nhanh, sạch, bán được giá cao. Cần có kết hợp chặt chẽ nuôi CBT ở ao và lồng bè là nâng cao hiệu quả của nuôi CBT. Kỹ thuật như phần nuôi ở ao và ở lồng bè.

3. Nuôi CBT ở ruộng lúa:

- Ruộng lúa nuôi cá trắng (mè trắng, chép trôi, mè vình, rô phi, hường ...) các loại cá này chủ yếu ăn rong cỏ, mùn bả hữu cơ, sinh vật phù du. Chưa có loại cá ăn tép, cá tạp, động vật nhỏ có ở trong nước, khi đó loại cá tép con ngày có ở trong ruộng lúa rất nhiều. Khi chuẩn bị vụ lúa Đông Xuân mỗi ha có từ vài chục đến vài trăm kg cá tép vụn có thể làm thức ăn tốt cho CBT.

- Mật độ thả ghép: 1 con/5-10m vuông ruộng.

- Tạo điều kiện cho CBT ăn mồi tự nhiên ó ở ruộng: từng đoạn mương bao, chọn nơi êm, thả lục bình dầy làm nơi tối nước để CBT sống, cá tép tự nhiên vào cỏ trú, làm mồi ăn tự nhiên cho CBT.

- Cuối vụ thu hoạch cá trắng, có sản lượng cao, giá trị thấp, song giá trị CBT nuôi ghép lại cao hơn hẳn cá trắng nuôi chính.

4. Nuôi CBT ở lồng bè.

a. Chọn nơi nuôi CBT:

- Nước sông rạch, hồ chứa sạch, có dòng chảy đều, nước tốt suốt thời gian nuôi, lưu tốc nước 0,2-1m/giấy. Nơi có đủ nguyên liệu làm thức ăn cho cá.

- Cần tránh: Nơi nước nông cạn, nước không chảy, không có gió. Nơi nước chảy quá mạnh, sóng to, gió lớn, tàu bè qua lại nhiều, có tiếng động mạnh và cản trở giao thông. Nơi có nguồn nước nhiễm bẩn thuộc nông nghiệp, chất thải từ đồng ruộng, công nghiệp, nước phèn, nước đen. Nơi khúc quanh cửa sông, mùn bả hữu cơ tích tụ nhiều. Nơi có quá nhiều rong cỏ. Nơi có quá nhiều lồng bè đặt gần nhau.

b. Thiết kế lồng bè:

- Nuôi CBT nên làm lồng bè loại nhỏ: 1x1,5x1,2m 3x4x1,5m dễ xử lý quá trình nuôi. Nguyên liệu có thể bằng tre gỗ.

- Bè đóng kín 3 mặt: đáy và 2 bên hông, mặt trước và mặt sau đóng lưới hoặc nẹp tre, gỗ có kẽ thưa.

c. Thời vụ thả cá:

- Tùy môi trường nước và giống CBT có ở từng nơi mà thời vụ thả cá nuôi có thay đổi, thông thường từ tháng 6-7 đến tháng 12.

- Cỡ cá theo quy cỡ của sản xuất cá giống hay bắt tự nhiên: 50-70g, 80-100g, 160-200g. Mật độ thả từ 20-80 con/ m vuông, thông thường 25-40 con/ m vuông.

- Chất lượng giống cá trước khi thả phải thật tốt, cá đều cỡ, cá được khử trùng bằng nước muối 3-4%, tắm trong 15-20 phút hoặc Malachite green (thuốc này đã bị cấm sử dụng theo QĐ 20/2003/QĐ-BTS) một phần triệu.

d. Thức ăn:

- Tận dụng thế mạnh thức ăn có ở địa phương: tôm tép, cá nhỏ, trùng, ốc, cua, ... cho cá ăn trực tiếp. Thức ăn phải tươi, không được muối hóa chất. Khi nguồn thức ăn này giảm, giá cao, có thể thay một phần bằng thức ăn hỗn hợp.

Công thức 1:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 55-60%

+ Dầu cá : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Công thức 2:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 50-60%

+ Trùn đất băm nhỏ : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Lượng thức ăn hàng ngày 5-10% trọng lượng cá nuôi trong bè.

Thời gian cho ăn vào sáng sớm và chiều tối.

Thức ăn cho vào sàn, treo lơ lửng trong lồng bè, cách mặt nước 40-50cm. Mỗi bè lồng có 1-3 sàn ăn.

Có thể nuôi cá sống: cá săt, cá hường, cá trôi, rô phi, cá 7 màu, ốc, nhái làm thức ăn cho CBT.

e. Chăm sóc quản lý:

- Cho cá ăn đủ, đều, không để thức ăn dư thối.

- Hàng tuần cọ rửa lồng bè một lần và cọ vét thức ăn dư rơi vãi, phù sa ở đáy bè.

- Nếu cá bị bệnh trùng mỏ neo, dùng lá xoan bó thành bó để dưới đáy bè, nước lá xoan tiết ra làm trùng rơi khỏi cá.

- Nếu cá bị bệnh tuột nhớt, cuốn nhớt làm cá chết hàng loạt và nhanh chóng: cần chú ý nguồn nước qua bè nuôi chất phải tốt, không làm xây xát cá khi chuyển về bè. Thời kỳ đầu bệnh có vết trắng ở đuôi, sau đó lan dần toàn thân cá. Phòng bệnh không nên nuôi cá mật độ quá dầy, không làm xây xát cá. Dùng vôi bột 1-2kg/ m khối nước treo ở đầu nguồn nước: trị: ngâm cá trong clorua vôi nồng độ 1ppm. Tắm cá bằng Treptomycine 25mg/l trong 30 phút đến 1 giờ. Có thể dùng cao su bịt hai đầu bè cho thuốc vào bè tắm cá.

f. Thu hoạch:

- Cá nuôi sau 5-7 tháng đạt cỡ trên 400g/con thì thuhoạch.

- Hàng tháng nên đánh tỉa cá đạt tiêu chuẩn một lần. cá chưa đat nên tiếp tục nuôi và bổ sung giống.

- Cuối vụ thu hoạch tổng thể, vệ sinh bè lồng, chuẩn bị cho vụ nuôi sau.

 

KỸ THUẬT NUÔI THỦY ĐẶC SẢN  NƯỚC NGỌT - KS DƯƠNG TẤN LỘC - NXB TP. HCM 


Bí quyết mới nuôi cá bống tượng - Cho ăn một lần cá "nhịn" ba tháng

Cá bống tượng được xem là đối tượng nuôi đạt hiệu qủa kinh tế cao, giá cả thương phẩm thường ở mức cao, loại 300-400g/con được các vựa thu mua giá trên 100.000 đồng/kg, loại từ 0,5kg/con trở lên giá 160.000-240.000 đồng/kg tùy theo thời giá. Loài cá này rất dễ nuôi, tùy điều kiện chăm sóc, sau 15 tháng nuôi cá đạt trọng lượng 0,5-0,8kg/con. Tuy nhiên vấn đề mà người dân còn ngại nhất là trong ba tháng đầu rất khó kiếm thức ăn cho cá, nay vấn đề này đã được "Vua" cá Tám Tiếu (Tiền Giang) giải quyết hiệu qủa bằng bí quyết thật đơn giản: Nuôi cá bạc đầu làm mồi.

Cá bạc đầu có rất nhiều trong tự nhiên, sống tập trung thành đàn, cá sinh sản rất nhanh và liên tục. Nếu nuôi trong ao có cho thức ăn như cám, cặn bã... sau hai tháng nuôi, 300 con giống ban đầu sinh sản đủ nuôi 1000 con cá bống tượng trong 2-3 tháng. Cá bạc đầu là thức ăn được cá bống tượng ưa thích, với mồi ăn này sau ba tháng nuôi cá đạt trọng lượng trên 100g/con.

Quy trình nuôi cá bạc đầu làm mồi cho cá bống tượng thực hiện như sau: Trước khi thả nuôi cá bống tượng, thả cá bạc đầu xuống ao trước. Ao 100m2 có thể thả khoảng 1kg cá bạc đầu làm giống (Nếu muốn rút ngắn thời gian nuôi cá bống tượng có thể thả cá bạc đầu với số lượng lớn cho mau sinh sản), khi cá sinh sản dày đặc bắt đầu thả cá bống tượng vào nuôi. Ban đầu cá bống tượng chỉ ăn được cá bạc đầu con, khi ăn được cá bạc đầu bố mẹ thì cá bống tượng đạt trọng lượng khoảng 100g, giai đoạn này cá bống tượng đã qua giai đoạn khó nuôi và khó tìm mồi.

Trước đây người nuôi cá bống tượng vất vả giai đoạn ba tháng đầu, phải tìm nguồn thức ăn là trùn chỉ, tép xay chi phí cao nhưng cá phát triển không đều. Như vậy từ nay người nuôi cá bống tượng có giải pháp mới tiết kiệm chi phí, cá phát triển ổn định trong ba tháng đầu, lại khỏi bỏ công tìm thức ăn (chỉ cho ăn một lần trong ba tháng!). Ông Tám Tiếu cho biết: "Khi phát hiện ra cá bạc đầu là nguồn thức ăn cá bống tượng ưa thích, dễ tìm, tui đã cho không và chỉ cách bà con nuôi thử rất kết qủa. Hiện giờ tui cũng chuẩn bị giống cá bạc đầu đề cung cấp cho bà con nuôi cá bống tượng có nhu cầu".

Thanh Tâm - Báo KHPT, 28/5/2004

Nuôi cá bống tượng ở miền Bắc

Sau 6 năm nghiên cứu và đưa vào nuôi thử nghiệm, vừa qua Trung tâm Giống thuỷ sản (Sở Thuỷ sản Hải Phòng) đã chính thức nhân nuôi thành công giống cá bống tượng tại miền Bắc. Theo đánh giá ban đầu, cá hoàn toàn có thể sống, thích nghi và phát triển được trong môi trường nóng, lạnh thất thường của miền Bắc với tốc độ lớn bằng 2/3 so với cá nuôi ở các tỉnh phía Nam...

Ông Nguyễn Văn Đán- Phó Giám đốc Trung tâm Giống thuỷ sản Hải Phòng cho biết, bống tượng là một loài cá thuộc dạng cá dữ thường được nuôi phổ biến ở các tỉnh miền Tây Nam bộ do chúng rất thích nghi với điều kiện nóng ấm quanh năm ở đây. Tuy nhiên, nếu biết cách thay đổi một vài khâu kỹ thuật cho phù hợp thì cá cũng có thể hoàn toàn sống và sinh trưởng được tại miền Bắc.

Kể từ năm 1998, các cán bộ ở Trung tâm đã bắt đầu nhập giống từ miền Nam ra với mục đích nghiên cứu sự thích nghi của cá trong điều kiện khí hậu nhiệt đới lạnh khác gì so với khí hậu miền Nam. Theo ông Đán, ban đầu cá tỏ ra rất thích nghi vào mùa hè, nhưng tới mùa đông nhiều con tỏ ra chậm lớn, thậm chí xuất hiện tình trạng bỏ ăn do thời tiết quá rét. Do đó, để nuôi được cá các cán bộ ở đây đã tiến hành thay đổi cách nuôi theo các bước sau:

Thiết kế ao nuôi

Ao nuôi cá bằng ao đất bình thường, có kè gạch bốn xung quanh thành ao. Đất trong ao tốt nhất là đất sét hoặc đất pha sét để giữ được nước, đảm bảo đất không bị nhiễm phèn, đặc biệt phải thông thoáng... Diện tích ao thông thường rộng 200- 500m2, xây theo hình chữ nhật, chiều dài lớn gấp 3 lần chiều rộng, độ sâu thích hợp 1,5- 2m. Khi xây ao nên bố trí làm thêm các hang hốc nhân tạo cho cá trú ngụ bằng cách xếp đá tạo nhiều kẽ hở. Dưới đáy ao cần tạo một lớp bùn dày khoảng 20cm cho cá chui xuống.

Chăm sóc

Bống tượng là loài cá sử dụng thức ăn hoàn toàn bằng động vật, chủ yếu là các loại cá con, cá nhỏ hay tôm, tép... tuyệt đối không ăn thực vật. Thông thường mỗi ngày cần cho cá ăn một lần với lượng thức ăn bằng 5- 7% so với trọng lượng cơ thể của chúng. Thức ăn phải được băm nhỏ, sạch sẽ không bị nhiễm bệnh.

Chống rét cho cá

Đây là khâu quan trọng nhất trong quá trình nuôi cá tại miền Bắc. Thông thường nếu về mùa hè thì không vấn đề gì, nhưng tới mùa rét (xuất hiện từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) phải hết sức đề phòng cá bị chết rét. Cách chống rét được các cán bộ ở Trung tâm sử dụng là dùng bạt để che chắn gió lọt vào trong ao hoặc tạo các giá bèo sát bờ tạo thành nơi cho cá trú ngụ...

Cho cá sinh sản

Mùa sinh sản của cá tại miền Bắc thường được bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 7, bởi đây là thời kỳ có điều kiện khí hậu thích hợp nhất cho cá. Hiện sau một thời gian thử nghiệm các cán bộ ở Trung tâm Giống thuỷ sản Hải Phòng vẫn đang cho cá bống tượng sinh sản một cách tự nhiên. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Đán, rất có thể trong thời gian tới Trung tâm sẽ chuyển sang phương pháp sinh sản nhân tạo vì nếu để cá sinh sản tự nhiên tỷ lệ hao hụt cá con tương đối nhiều.

Thu hoạch và cải tạo ao nuôi

Khi cá đạt trọng lượng trung bình mỗi con từ 0,3- 0,5kg/con thì bắt đầu thu hoạch. Nếu muốn bắt cá dễ dàng phải tát cạn hết nước ở trong ao, tránh tình trạng cáá có thể chui xuống bùn. Sau khi thu hoạch, phải tiến hành cải tạo ao theo các bước, bắt hết cá dữ còn sót lại trong ao. 10 ngày trước khi nuôi tiếp vụ khác phải tu sửa lại bờ ao cho chắc chắn, nạo vét bùn không để dày quá 20cm, dọn sạch cỏ xung quanh ao. Tiếp đó, dùng vôi bột để phòng bệnh cho cá với liều lượng 7- 10kg/1.000m2, đối với ao nhiễm phèn nặng thì phải cao hơn, đồng thời kết hợp bón bổ sung thêm phân chuồng vào ao theo tỷ lệ 30- 40 kg/1.000m2 .

Liệu nông dân miền Bắc có thể nuôi cá?

Bống tượng là loài cá có giá trị kinh tế rất cao với giá bán lên tới 70.000- 120.000 đồng/kg, vì thế ông Đán khẳng định người nông dân ở miền Bắc hoàn toàn có thể nuôi được, nhưng chi phí đầu tư tương đối lớn. Với 100 con đang được nhân nuôi hiện nay trong thời gian tới trung tâm sẽ tiếp tục mở rộng số lượng con giống để giúp bà con đưa vào nuôi thả đại trà.

NTNN, 1/4/2004

Comments
Search
Only registered users can write comments!

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."



 
Newer news items
< Trước

Naturland

Tài liệu về Naturland,
Sau đây là các tài liệu thông tin về Naturland Đức ( tài liệu tiếng Anh)
Quy trình đăng ký, nuôi trồng và sản xuất theo chất lượng của Naturland đề ra cho các lãnh vực sẽ được cập nhật thưởng xuyên, Nếu Quí vị có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp với  Công Ty Diệp Lục ( Chlorophyll Ltd. )
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>

Vermiculture, nuôi trùn

Trùn đất là loại động vật cần cho chăn nuôi nhất là nuôi gà vịt trong hộ gia đình . Nó là nguồn đạm tốt cho gà vịt.
 Theo Fosgate (1972) nếu trùn được sấy khô nghiền bột , nó là loại thúc ăn bổ sung đạm giàu protein , có các aminoaxít cân đối và một lượng khoán hợp lý. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của trùn đất cho thấy:

Môi trường

Thủy triều đỏ (red tide), hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml)
Newer news items
Older news items
<< Previous Page