Home

Đà lạt: Thêm yếu tố vi lượng để chuyển đổi màu hoa theo ý muốn

 Chuyển đổi màu hoa - đó là ý tưởng của các nhà khoa học tại Phân viện Sinh học Đà Lạt. Những bông hoa Torenia nở rực rỡ ngay trong ống nghiệm, và từ màu tím, nó có thể biến sang màu trắng.  Hoa Torenia khi chưa được các nhà khoa học tác động mang màu tím lãng mạn. Sau khi được chuyển màu - nó mang màu trắng tinh khiết.

Wo das Schweinetaxi 5000 Dong kostet

Von Jochen Vorfelder Vietnam hat eine Viertelmillion Straßenkilometer. Die Wege in den Bergen wären meist unpassierbar – wenn es nicht die Motorradtaxis gäbe. An der Grenze zu China lieben die Fahrer ihre uralten Minsk-Maschinen russischer Provenienz und transportieren alles, was Beine hat.

Wirtschaftliche Chancen in Vietnam nutzen

Bayern eröffnet 2008 neue Repräsentanz in Vietnam / Unterstützung der Unternehmen beim Ausbau der Wirtschaftsbeziehungen Müller: "Wirtschaftliche Chancen in Vietnam nutzen" MÜNCHEN Bayern optimiert sein weltweites Netz an Auslandsrepräsentanzen. Anfang 2008 nimmt der neue Repräsentant des Freistaats in Vietnam seine Tätigkeit auf. "Vietnam hat nach China die am schnellsten wach-sende Volkswirtschaft der Region. Seit Mitte letzten Jahres fördert dort ein neues Unternehmens- und Investitionsgesetz privatwirtschaftliches Engagement, die Verfahren sind enorm vereinfacht. Dadurch bieten sich in Zukunft viele Chancen für die wirtschaftliche Zusammenarbeit. Diese Chancen wollen wir für Bayern nutzen", begründet Bayerns Wirtschaftsministerin Emilia Müller die Entscheidung für Vietnam.

Vĩnh Long tìm hướng đi mới cho hàng nông sản

Người tiêu dùng luôn đòi hỏi người sản xuất làm ra hàng hóa chất lượng cao, đặc biệt là hàng thực phẩm, vì nó có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển của con người. Nông dân và các cơ sở sản xuất hàng nông sản ở tỉnh Vĩnh Long đã sớm "đi tắt đón đầu" nhu cầu chính đáng này. Tuy nhiên trong bước đi ấy họ cũng gặp không ít trắc trở.  

Vom majestätischen Mekong zum Roten Fluss

Mit Lotus Travel Indochina fernab touristischer Pfade erleben Neue Entdeckertour führt von Laos durch unberührte Bergwelten nach Vietnam (13.12.07) Bis vor wenigen Jahren war Indochina für Touristen kaum zugänglich. Nun öffnen sich die zu Indochina gehörigen Länder Laos, Kambodscha und Vietnam langsam ihren Besuchern und belohnen mit einzigartigen Natur- und Kulturschätzen. Nur ein Grund, warum der Asien-Spezialist Lotus Travel sein Programm für diese Region weiter ausgebaut hat und ihr 35 Seiten im neuen Katalog widmet – darunter die neuntägige Rundreise „Vom majestätischen Mekong bis zur Stadt an der Biegung des Roten Flusses“. Die länderübergreifende Tour führt fernab etablierter Routen von Laos nach Vietnam. Auf dem Weg von der Königsstadt Luang Prabang in das konfuzianische Hanoi durchquert der Reisegast eine der abgeschiedensten Regionen Indochinas. Hier erlebt er die unverfälschte Schönheit der Natur sowie die vielfältige Kultur der gastfreundlichen Bergstämme aus nächster Nähe.  

Cải tạo đất cằn, chất giữ ẩm đất
Để giúp cho người nông dân trong tình hình thời tiết khô hạn xảy ra thường xuyên, Trung tâm Nghiên c...
Để thiên lý nhiều hoa
Thiên lý là cây lưu niên, nếu chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh đúng cách, trồng một lần có thể cho...
4 bộ kit phát hiện bệnh tôm hiệu quả
   Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM vừa công bố 4 bộ kit mới có khả năng phát hiện nhanh ch...
Composition for treating white spot syndrome virus (WSSV) infected tiger shrimps
Abstract The present invention relates to a composition useful as prophylactic and/or therapeutic agent for the management of v...
Production of beta.-glucan and beta.-glucan product
Abstract Cereal grains are ground, slurried in water below the starch gelatinization temperature. Bran, starch granules and pro...
Apparatus for cultivating organovegetables
Abstract The subject is a novel apparatus for cultivating organovegetables, which includes an organic medium layer, a vegetable...
Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá bống tượng thương phẩm | In |
Mục lục bài viết
Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá bống tượng thương phẩm
tiếp theo
. Một số đặc điểm của cá bống tượng (CBT):
 - CBT là loài đặc trưng của vùng nhiệt đới. Cá tự nhiên bắt gặp ở: Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Brunei, Lào, Sumatra, Campuchia. CBT là loại thủy đặc sản có giá trị kinh tế cao, được nhiều nước nuôi cung cho yêu cầu. Ở miền Nam Việt Nam cá xuất hiện ở hệ thống sông Cửu Long, Đồng Nai, Vàm Cỏ.
- Trong tự nhiên, cá phân bố khắp các loại thủy vực: sông rạch, mương ao, ruộng, ... Cá sống thích hợp ở môi trường nước không bị nhiễm phèn, pH = 7, song chúng có thể chịu đựng pH=5.
+ Nhiệt độ thích hợp nhất cho cá phát triển 26-32 độ C, cá cũng có thể chịu đựng nhiệt độ nước 15-41,5 độ C.
+ Cá sống ở nước ngọt, song có thể chịu đựng đến độ muối 15‰.
+ Cá cần có dưỡng khí trên 3mg/l, song cá có thể chịu đựng ở môi trường dưỡng khí thấp vì cá có cơ quan hô hấp phụ.
 
- CBT có tập tính sống ở đáy, ban ngày thường vùi mìnhxuống bùn, hang hốc, bộng, khi gặp nguy hiểm cá có thể chúi xuống bùn sâu đến 1m, có thể sống ở đó hàng chục giờ. Môi trường nước yên tĩnh, có cỏ cây thủy sinh làm giá đỡ, cá có thể sống ở mé bờ gần mặt nước, cá ăn mồi sống tự nhiên. CBT thường hoạt động vào đêm, nơi có điều kiện thuận lợi cá hoạt động cả ban ngày.
- CBT trưởng thành có bộ máy tiêu hóa biểu hiện cho loài cá dữ điển hình. Miệng lớn răng hàm dài và sắc, tỷ lệ của chiều dài của ruột trên chiều dài thân 0,7. CBT ăn động vật, chủ yếu là : cá, tôm, tép, cua, trùn, ấu trùn, côn trùng, thủy sinh... Tuy nhiên CBT khác với cá lóc, cá lóc chủ động đuổi mồi bắt, CBT rình bắt mồi. CBT ăn mạnh về đêm hơn ngày, nước rong ăn mạnh hơn nước kém, nước lớn ăn mạnh hơn nước ròng, CBT thích ăn tép, cá tươi, không thích ăn vật ươn thối.
- CBT sinh sản lần đầu sau 9-12 tháng tuổi. Mùa sinh sản tự nhiên kéo dài từ tháng 3-11, tập trung từ tháng 5-8. Mức sinh sản của CBT 150.000-200.000 trứng/kg cá cái. Cỡ cá 150g có số trứng nhiều nhất 270.000, cỡcá 250g có 58.700, cỡ cá 350g có 76.000 trứng. Cá tái phát dục khoảng 30 ngày sau. Trứng cá có dạng hình quả lê, trứng dính. Bãi đẻ của cá nằm ở ven bờ và sâu trong nước nơi có cây cỏ thủy sinh hay các gốc thân cây chìm trong nước.
- Trong điều kiện nhiệt độ 26-30 độ C; trứng CBT sau khi đẻ 25-26 giờ thỉ nở, lúc này có chiều dài 2,5-3mm.
- Sau khi nở một ngày, chiều dài cá đạt 3,8mm, cá chuyển động thẳng đứng và từ từ buông mình chìm xuống đáy.
+ Cá nở sau 2 ngày, chiều dài 3,8-4mm, mắt có sắc tố đen. Xuất hiện vi ngực, cá vận động thẳng đứng.
+ Cá 3 ngày dài 4-4,2mm, túi noãn hoàng tiêu biến.
+ Cá 12 ngày đã xuất hiện đầy đủ vây.
+ Cá 18 ngày tuổi hình thành vảy và có hình dáng của cá trưởng thành.
+ Cá 30 ngày tuổi dài khoảng 13mm.
+ Cá 45 ngày tuổi dài khoảng 21 mm.
+ Cá 60 ngày tuổi dài khoảng  30mm.
+ Cá 75 ngày tuổi dài khoảng  41mm.
+ Cá 90 ngày tuổi dài khoảng 53mm.
So với các loài cá khác, CBT có tốc độ tăng trưởng chậm từ ở giai đoạn cá dưới 100g, cá từ 100g trở lên tăng trưởng khá hơn.
Ở giai đoạn từ cá bột đến cá hương, cá phải mất thời gian 2-3 tháng mới đạt chiều dài 3-4cm. Từ cá hương cần phải nuôi 4-5 tháng cá đạt kích cỡ giống cá 100g/con. Để có cỡ 100g từ lúc đẻ phải mất thời gian nuôi 7-9 tháng. Trong tự nhiên, những cá còn sống sót sau khi nở phải cần khoảng 1 năm để có thể đạt cỡ từ 100-300g/con. Để có cá thương phẩm 400g trở lên, cá giống có trọng lượng 100g, phải nuôi ở ao từ 5-8 tháng, ở bè 5-6 tháng.

 

II. Kỹ thuật nuôi CBT

1. Điều kiện để môi trường thích hợp cho CBT phát dục phát triển.

- Nhiệt độ nước 28-31 độ C.
- pH = 6,5 -8
- Oxy hòa tan 3-4mg/l
- Nước cấp sạch và chủ động cấp thoát.

2. Thời gian vụ và chuẩn bị ao ương:

- Thời gian nuôi vỗ cá cha mẹ từ tháng 12-1 dl.
- Cá cha mẹ phải khỏe mạnh, không dị hình, không nhiễm bệnh, độ tuổi từ 1 tuổi trở lên, trọng lượng trên 200g. Cá không thương tật, mất nhớt, cá không bị mắc câu, mắc lưới, chích điện. Trước khi thả cá nuôi vỗ phải tắm cá bằng nước muối 2% trong 3-5 phút.
- Ao nuôi vỗ 500-1000m vuông, ao có hình chữ nhật, dài gấp 3-4 lần chiều rộng, mức nước sâu 1,0-1,2m. Cải tạo ao triệt để như cải tạo ao khác, cần lưu ý xâm các hang để cá đẻ vào hang, trang bằng đáy ao. Bón vôi bột 7-10kg/100m vuông ao, phơi đáy ao 3-5 ngày, lọc nước từ từ vào.

3. Thả cá cha mẹ và chăm sóc:

- Mật độ cá cha mẹ ở ao từ 0,2-0,3kg/m vuông ao. Nếu nuôi riêng cá đực 0,5kg/m vuông, cá cái 0,2kg/m vuông ao. Nếu nuôi vỗ đực cái chung tỷ lệ 1/1.
- Cho cá ăn bằng cá tươi sống khẩu phần ăn 3-5% trọng lượng thân/ngày. Cá tươi chưa bị ươn thối, ốc, tép, lòng gà, ... cắt vừa miếng ăn của cá, cho thức ăn vào sàn đặt cố định trong ao, cần xem thừa thiếu để điều chỉnh cho thích hợp. Cứ 50 m vuông/ một sàn ăn. Cho ăn 2 lần sáng, chiều. Có cá tươi sống (cá hường, trôi, cá 7 màu, ...) thả chung với cá cha mẹ, thả 10% so với trọng lượng cá cha mẹ, sau 5 ngày kiểm tra tăng giảm thức ăn.
- Hàng ngày cần kiểm tra không để thức ăn dư làm dơ nước, bệnh cá, ... Ao được trao đổi nước hàng ngày càng tốt, hoặc theo định kỳ nước thủy triều mỗi tuần một lần, lượng nước thay đổi 20-30%.

4. Kiểm tra độ thành thục của cá:

Cá đực có gai sinh dục nhỏ, ngắn, đầu nhọn, hình tam giác. Khi cá đã thành thục, vuốt nhẹ gần gaisinh dục sẽ có sẹ trắng chảy ra. Cá cái có gai sinh dục lớn hơn, dài, đầu gai sinh dục tròn, có màu đỏ ửng, bụng cá to tròn. Nếu dùng que thăm trứng thấy trứng đều, hơi rời, kích thước 0,5-0,6mm lá cá đã sẵn sàng đẻ.

5. Cho cá đẻ:

a. Cho CBT đẻ ở ao và ương ở ao

- Ao được cải tạo, diệt tạo tốt, cho cá cha mẹ vào nuôi vỗ, mật độ nuôi có thể 5-10kg CBT/100m vuông ao.
- Đặt giá thể xuống ao (gạch tàu, mê bồ), đặt ở bờ ao nghiêng 45 độ cách đáy ao 20cm.
- Đến nước rong, cho nước chảy vào ao nuôi mạnh, cá kích thích tự sinh đẻ và trứng nở tự phát triển ở ao.
- Trong thời gian này: Gây màu  nước tạo thức ăn cho cá, cho cá con ăn thức ăn nhân tạo như ương  cá con. Cá lớn vẫn tiếp tục cho ăn thức ăn cỡ lớn vừa, cá phát dục đẻ tiếp trong ao.
- Khi thị trường có giá, nhử bắt cá lớn bán, cá con tiếp tục nuôi dưỡng, cuối năm có cá giống 50-200g/con.

b. Cho cá đẻ ở ao:

Cho cá đẻ tự nhiên trong ao: Hàng tháng cho cá đẻ tập trung vào con nước rong. Đặt tổ (giá thể) bằng gạch tàu xung quanh bờ gần đáy ao. Tổ này cách tổ kia 2-3m, số tổ bằng 1/3 lượng cá cái, giá thể đặt nghiêng góc 45 độ và cách đáy ao 20-30cm. Hàng ngày kiểm tra giá thể 1-2 lần để vớt trứng tránh cá tạp khác ăn trứng.

- Cho cá đẻ đồng loạt trong ao, thu được nhiều trứng phải dùng kích thích tố: Liều lượng sử dụng cho 1kg cá cái là 1-2mg đối với não thùy, và 250-300UI đối với HCG, liều lượng dùng cho cá đực 1/3-1/2 cá cái. Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào ao đã đặt sẵn giá thể, thông thường sau 10-12 giờ tiêm là cá đẻ.

Cả hai phương pháp này phải lợi dụng nước mới, sạch để kích thích cho cá đẻ. Cần xâm chặt các hang để tránh cá đẻ vào hang.

c. Cho cá đẻ nhân tạo:

Giống như phương pháp trên, nhưng đến thời điểm cá rụng trứng, tiến hành vuốt trứng, vuốt tinh cá đực rồi tiến hành thụ tinh nhân tạo, sau đó đem rải trứng lên giá thể và đem ương. Có thể sau khi thụ tinh thì khử trứng dính bằng dung dịch tananh và ấp trứng bằng bình Weys.

4. Ấp trứng:

- Dụng cụ ấp, bể nhựa, thuỷ tinh, xi măng, bể vòng, bình Weys, vv...
- Dụng cụ ấp phải được rửa sạch và sát trùng bằng vôi hoặc chlorine, sau đó rửa lại bằng nước sạch.
- Nước dùng để ấp phải trong, sạch, không có mầm bệnh và lọc qua vải mouseline hoặc lưới phiêu sinh.
- Môi trường ấp trứng nhiệt độ thích hợp 28-30 độ C, oxy hòa tan > 5mg/l, pH 7-7,5 và không có sinh vật hại trứng (động vật phù du nhóm cyclops, bọ gạo, ...)
- Mật độ ấp 1.000.000 - 1.500.000 trứng/m khối nước. Qua kinh nghiệm thực tiễn thì ấp trứng theo phương pháp nước tĩnh có sục khí là tốt nhất, vì kích thước cá bột rất nhỏ và rất yếu dễ mẫm cảm với điều kiện môi trường, giữ hàm lượng oxy bằng sục khí nhiệt độ nước bằng Heater.
- Mỗi ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 50-80% lượng nước và lấy các giá thể ra khi trứng đã nở trên 90% và rút cá bột sang các bể khác để chăm sóc.
- Thời gian nở của trứng từ 34-82 giờ tùy nhiệt độ và phương pháp ấp.
- Cá sau khi nở 2-6 ngày được đưa sang bể ương.

6. Ương cá bột lên cá hương giống

a. Ương trong ao đất

a1. Ương cá bột lên cá hương
- Chuẩn bị ao:
Ao ương có diện tích 200-500m vuông, mức nước sâu 0,8-1,0. Trước khi ương cá ao được cải tạo triệt để như các ao ương cá khác, cần vét sạch bùn đáy, lấp các hang, dọn sạch cây cỏ, sửa bờ - đập, bộng có lưới dầy 2a = 0,5-0,7mm lọc nước. Nếu còn sót cá dữ diệt bằng dây thuốc cá 2kg/100m khối nước.
Đáy ao được trang bằng, thấp dần về cống thoát nước. Vôi bột 7-10kg/100m vuông, phơi nắng ao 2-5 ngày.
Lấynước vào ao phải qua lưới lọc kỹ. Nếu ao có bọ gạo diệt bằng dầu lửa trước khi thả cá, sau đó xả lớp nước mặt, thả cá.
- Mật độ thả: 200-300 con/m vuông. Nên thả cá vừa lúc hết noãn hoàng (3 ngày tuổi). Thả cá vào sáng sớm chiều mát, nhiệt độ nước 28-30 độ C, hàm lượng oxy hòa tan 4-5mg/l, pH = 6,5-7,5.
- Chăm sóc cá ương:

Cá sau khi thả phải cho ăn ngay:

+ 10 ngày đầu cho ăn 5 lòng đỏ trứng và 0,5 kg bột đậu nành/100 m vuông ao trong ngày. Ngày ăn 5 lần.
+ 15 ngày tiếp theo 6-8 trứng và 0,6-0,7 kg bột đậu nành/100 m vuông ao trong ngày. Cho ăn ngày 4 lần.
+ Từ ngày 26-40: cho ăn trùn chỉ, cá, tép, ốc xay nhuyễn. Lượng thức ăn trong ngày 0,5-1,5kg/ngày/100 m vuông ao. Cá đạt 2-3cm.
+ Cá sau 20 ngày tuổi có thể ăn được phù du động vật lớn như chi giác, luân trùng, chân chèo, có thể gây nuôi thức ăn tự nhiên trong ao bằng bột đậu nành (2,5g bột đậu nành/1m khối nước mỗi ngày).
+ Đặt gần sát đáy ao một số ống nhỏ, ống tre, nhựa, sành để cá chui vào trú ẩn. Khi kiểm tra thì bịt 2 đầu bộng đưa lên. Ương tốt thì tỷ lệ sống 38-51%

a2. Ương cá hương thành cá giống 8-10cm.

- Để có cá 8-10cm cần ương cá thời gian 3,5-4 tháng tiếp. Mật độ ương 75-150 con/ m vuông. Kỹ thuật ương và chuẩn bị ao như phần ương cá bột lên cá hương.
- Thức ăn là cá, tép, ốc, lòng gà vịt heo, ... băm nhỏ, dùng sàn cho ăn.
- Ngày cho ăn 2 lần. Thức ăn được đặt vào sàn cố định. Khẩu phần thức ăn: tháng thứ nhất 10%, tháng thứ hai 8%, tháng thứ ba còn 5-6% so với trọng lượng cá. Thường xuyên kiểm tra tốc độ điều chỉnh lượng thức ăn cho thích hợp.
- Nước trong ao cần được thay thường xuyên, tối thiểu 1 tuần thay 2 lần nước. Khi cá đạt 8-10cm chuyển sang nuôi cá lứa. Tỷ lệ sống 35-44%.

a3. Nuôi cá lứa:

- Ao diện tích 200-500m vuông, nước sâu 1-1,2m, ao được chuẩn bị như ao ương cá giống, cần loại bỏ địch hại cá vào ao.
- Mật độ thả 2-5con/ m vuông.
- Thức ăn: Cá tươi sống hoặc ốc, cá tép băm nhỏ cho vào sàn ăn, khẩu phần ngày 3-4%.
- Cá nuôi được 2 tháng cho cá trôi, hường, 7 màu (cỡ cá 1-2cm) vào làm thức ăn trực tiếp. Cứ 7-10 ngày thả thức ăn 1 đợt 10% trọng lượng cá.
- Cần thay nước ao thường xuyên theo thủy triều, ít nhất 2 lần/ tuần (bơm nước). Sau 5-6 tháng ương cá đạt cỡ 60-70g/ con, chuyển sang nuôi cá thịt. Tỷ lệ sống 61-70%.

b. Ương cá bột thành cá hương giống trên bể xi măng, bể đất lót bạt:

b1. Ương cá bột lên cá hương (1,5-2cm):

- Bể ương phải rửa sạch và tẩy trùng chlorine, mực nước trong bể 0,6-0,8m, nước vào bể được lắng cặn, lọc kỹ, có lưới che mặt bể nhằm ngăn bọ gạo nhảy vào. Nước được lọc qua lưới phiêu sinh động vật.
- Mật độ ương 1.000-1500 con/m vuông
- Thức ăn:
+ Tuần lễ đầu: Lòng đỏ trứng và bột đậu nành, mỗi loại 50g/10.000 con cả trong ngày. Ngày cho ăn 4-5 lần.
+ Tuần thứ hai: Mỗi loại thức ăn trên 75g/10.000 cá/ngày.
+ Tuần thứ ba: Bột đậu nành, trứng vịt lòng đỏ 10g/ngày/10.000 cá và đồng thời cho ăn trứng nước  (moina) 50g/10 m khối nước/ ngày.
+ Tuần thứ tư: trứng nước 100g/10m khối nước/ ngày và cho ăn thêm trùn chỉ 100g/ngày/ 10.000 cá.
+ hàng ngày xi phong nước dưới đáy bể, loại chất thải, chất cặn, thay 20% nước mỗi ngày. Sục khí liên tục suốt quá trình ương. Tỷ lệ sống 38-88%.

b2. Ương cá hương lên cá giống (8-10cm):

- Bể có diện tích 15-20m khối, bể được chuẩn bị như ương cá hương. Mức nước sâu 0,6-0,8m.
- Mật độ ương 75-150 con/m vuông.
- Thức ăn: cá xay, trùn chỉ
+ Tháng đầu 10% trọng lượng thân cá/ ngày, trong đó cá xay 30%, trùn chỉ 70%.
+ Tháng thứ hai 8-9% trọng lượng thân cá/ ngày trong đó cá xay 50%, trùn chỉ 50%.
+ Tháng thứ ba: 6-7% trong lượng thân cá/ ngày trong đó cá xay 70%, trùn chỉ  30%.
+ Tháng thứ tư: 5% trong lượng thân cá/ ngày trong đó cá xay 85 %,trùn chỉ  15%.
- Hàng ngày xi phong đáy bể để loại bỏ chất cặn, chất thải trong nước. Lượng nước thay 20-30%/ ngày. Sục khí vào ban đêm. Thường xuyên theo dõi và điều chỉnh khẩu phần thức ăn hàng ngày cho phù hợp. Tỷ lệ sống 68-80%.
- Ương ở ao và ở bể: Thay nước hàng ngày 10-20%, có sục khí, nếu không có sục khí phải giảm mật độ ương xuống còn 50-100 con/ m vuông. Cần có lưới bao để loại các địch hại của cá vào ăn cá. Cần theo dõi hoạt động của cá mà có biện pháp xử lý kịp thời.
KỸ THUẬT NUÔI THỦY ĐẶC SẢN  NƯỚC NGỌT - KS DƯƠNG TẤN LỘC - NXB TP. HCM 


 
Newer news items
< Trước
 

sản phẩm mới

Máy diệt tảo XXL, không hóa chất
Máy diệt tảo XXL, không hóa chất

Máy diệt tảo XL, không hóa chất
Máy diệt tảo XL, không hóa chất

Máy diệt tảo Tank, không hóa chất
Máy diệt tảo Tank, không hóa chất

Naturland

Tài liệu về Naturland,
Sau đây là các tài liệu thông tin về Naturland Đức ( tài liệu tiếng Anh)
Quy trình đăng ký, nuôi trồng và sản xuất theo chất lượng của Naturland đề ra cho các lãnh vực sẽ được cập nhật thưởng xuyên, Nếu Quí vị có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp với  Công Ty Diệp Lục ( Chlorophyll Ltd. )
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>

Vermiculture, nuôi trùn

Trùn đất là loại động vật cần cho chăn nuôi nhất là nuôi gà vịt trong hộ gia đình . Nó là nguồn đạm tốt cho gà vịt.
 Theo Fosgate (1972) nếu trùn được sấy khô nghiền bột , nó là loại thúc ăn bổ sung đạm giàu protein , có các aminoaxít cân đối và một lượng khoán hợp lý. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của trùn đất cho thấy:

Môi trường

Thủy triều đỏ (red tide), hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml)
Newer news items
Older news items
<< Previous Page