Home

Đà lạt: Thêm yếu tố vi lượng để chuyển đổi màu hoa theo ý muốn

 Chuyển đổi màu hoa - đó là ý tưởng của các nhà khoa học tại Phân viện Sinh học Đà Lạt. Những bông hoa Torenia nở rực rỡ ngay trong ống nghiệm, và từ màu tím, nó có thể biến sang màu trắng.  Hoa Torenia khi chưa được các nhà khoa học tác động mang màu tím lãng mạn. Sau khi được chuyển màu - nó mang màu trắng tinh khiết.

Wo das Schweinetaxi 5000 Dong kostet

Von Jochen Vorfelder Vietnam hat eine Viertelmillion Straßenkilometer. Die Wege in den Bergen wären meist unpassierbar – wenn es nicht die Motorradtaxis gäbe. An der Grenze zu China lieben die Fahrer ihre uralten Minsk-Maschinen russischer Provenienz und transportieren alles, was Beine hat.

Wirtschaftliche Chancen in Vietnam nutzen

Bayern eröffnet 2008 neue Repräsentanz in Vietnam / Unterstützung der Unternehmen beim Ausbau der Wirtschaftsbeziehungen Müller: "Wirtschaftliche Chancen in Vietnam nutzen" MÜNCHEN Bayern optimiert sein weltweites Netz an Auslandsrepräsentanzen. Anfang 2008 nimmt der neue Repräsentant des Freistaats in Vietnam seine Tätigkeit auf. "Vietnam hat nach China die am schnellsten wach-sende Volkswirtschaft der Region. Seit Mitte letzten Jahres fördert dort ein neues Unternehmens- und Investitionsgesetz privatwirtschaftliches Engagement, die Verfahren sind enorm vereinfacht. Dadurch bieten sich in Zukunft viele Chancen für die wirtschaftliche Zusammenarbeit. Diese Chancen wollen wir für Bayern nutzen", begründet Bayerns Wirtschaftsministerin Emilia Müller die Entscheidung für Vietnam.

Vĩnh Long tìm hướng đi mới cho hàng nông sản

Người tiêu dùng luôn đòi hỏi người sản xuất làm ra hàng hóa chất lượng cao, đặc biệt là hàng thực phẩm, vì nó có liên quan trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển của con người. Nông dân và các cơ sở sản xuất hàng nông sản ở tỉnh Vĩnh Long đã sớm "đi tắt đón đầu" nhu cầu chính đáng này. Tuy nhiên trong bước đi ấy họ cũng gặp không ít trắc trở.  

Vom majestätischen Mekong zum Roten Fluss

Mit Lotus Travel Indochina fernab touristischer Pfade erleben Neue Entdeckertour führt von Laos durch unberührte Bergwelten nach Vietnam (13.12.07) Bis vor wenigen Jahren war Indochina für Touristen kaum zugänglich. Nun öffnen sich die zu Indochina gehörigen Länder Laos, Kambodscha und Vietnam langsam ihren Besuchern und belohnen mit einzigartigen Natur- und Kulturschätzen. Nur ein Grund, warum der Asien-Spezialist Lotus Travel sein Programm für diese Region weiter ausgebaut hat und ihr 35 Seiten im neuen Katalog widmet – darunter die neuntägige Rundreise „Vom majestätischen Mekong bis zur Stadt an der Biegung des Roten Flusses“. Die länderübergreifende Tour führt fernab etablierter Routen von Laos nach Vietnam. Auf dem Weg von der Königsstadt Luang Prabang in das konfuzianische Hanoi durchquert der Reisegast eine der abgeschiedensten Regionen Indochinas. Hier erlebt er die unverfälschte Schönheit der Natur sowie die vielfältige Kultur der gastfreundlichen Bergstämme aus nächster Nähe.  

Cải tạo đất cằn, chất giữ ẩm đất
Để giúp cho người nông dân trong tình hình thời tiết khô hạn xảy ra thường xuyên, Trung tâm Nghiên c...
Để thiên lý nhiều hoa
Thiên lý là cây lưu niên, nếu chăm sóc tốt, phòng trừ sâu bệnh đúng cách, trồng một lần có thể cho...
4 bộ kit phát hiện bệnh tôm hiệu quả
   Trung tâm Công nghệ Sinh học TP.HCM vừa công bố 4 bộ kit mới có khả năng phát hiện nhanh ch...
Composition for treating white spot syndrome virus (WSSV) infected tiger shrimps
Abstract The present invention relates to a composition useful as prophylactic and/or therapeutic agent for the management of v...
Production of beta.-glucan and beta.-glucan product
Abstract Cereal grains are ground, slurried in water below the starch gelatinization temperature. Bran, starch granules and pro...
Apparatus for cultivating organovegetables
Abstract The subject is a novel apparatus for cultivating organovegetables, which includes an organic medium layer, a vegetable...
Kĩ thuật nuôi cá tra và cá basa trong bè (2) | In |

1. Thiết kế và xây dựng bè.  

Bè nuôi cá ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long thường được kết hợp vừa là bè cá vừa là nhà ở. 

Dựa vào thời gian sử dụng mà chia ra 2 nhóm bè: bè kiên cố và bè tạm thời. 

Nhóm bè tạm thời thường nhỏ và được đóng bằng tre hoặc loại gỗ chịu nước kém. 

Bè cỡ trung và cỡ lớn thường nằm trong nhóm bè kiên cố. Các bè này được đóng bằng gỗ tốt và chịu nước như gỗ sao, vên vên, căm xe, chò chỉ, dầu, bằng lăng. Loại bè này đủ sức chịu đựng được với điều kiện sóng gió, nước chảy và khá bền, có khi tới 50 năm Việc đóng mới các loại bè kiên cố hiện nay cũng gặp khó khăn do khan hiếm các loại gỗ tốt. Vì vậy có một số bè mới được thiết kế bằng các loại vật liệu mới như bè ximăng lưới thép ... 

Bè nuôi cá thường có dạng hộp chữ nhật, ngoại trừ một số bè cỡ nhỏ dùng cho ương cá giống thì có dạng hộp vuông. Người nuôi cá bè cho rằng dạng bè hộp chữ nhật dễ dàng trong chọn gỗ thiết kế và quản lý sử dụng. Ngoài ra dạng này cũng phù hợp cho việc làm nhà trên bè theo truyền thống và cũng là nơi chế biến thức ăn, nhà kho, chuồng chăn nuôi... 

Đầu tư đóng một bè nuôi khá tốn kém, vì vậy nguồn vốn là yếu tố quyết định cho việc đóng cỡ bè lớn hay nhỏ. Thời gian vừa qua đa số bè của các cơ sở quốc doanh do được đầu tư cao nên kích thước bè đóng khá lớn (thường là bè cỡ lớn, 500 đến 1000 mét khối). Bè lớn thì thuận lợi cũng như thích hợp cho nuôi các loài cá kích thước lớn và bơi nhanh như cá tra, basa. 

Các bộ phận chính của bè gồm có: 

- Khung bè: gồm có trụ đứng, đà dọc, đà ngang và cây chéo (cây xiên tả). Khung bè được kết cấu bằng gỗ tốt, kích thước thanh gỗ phù hợp để đảm bảo không bị biến dạng bởi sóng nước trong thời gian sử dụng. 

- Mặt bè:được đóng kín bằng thanh nẹp gỗ, có chứa 2-3 cửa để cho cá ăn, chăm sóc và thu hoạch cá. Cửa mặt bè có nắp đậy và nâng hạ được, kích thước 1m x 2m. Nẹp gỗ đóng theo chiều ngang của bè, cách nhau 1-,5cm. 

- Hông bè: được ghép bằng ván gỗ ở phía trong trụ đứng, khe hở giữa các tấm ván cách nhau 1 - 1,5cm để cá không thoát ra ngoài, đôi khi khoảng cách này còn tùy thuộc vào tốc độ dòng chảy. Nếu dòng chảy qua bè quá mạnh làm cá luôn hoạt động sẽ tốn năng lượng và kém ăn, ngược lại, nếu nước qua bè quá chậm sẽ làm cá thiếu oxy, các chất cặn bã, phù sa tích tụ trong bè có thể gây ô nhiễm và dễ làm cho cá nhiễm bệnh. 

- Đầu bè: đóng bằng lưới kẽm, lưới đồng hoặc lưới Inox có kích thước mắt nhỏ hình vuông (1,5 x 1,5 - 2 x 2cm). Các bè nhỏ thì đầu bè đóng bằng các thanh nẹp gỗ phía bên trong trụ đứng, chỉ chừa một khoảng ở giữa để đóng lưới Inox. 

- Đáy bè: đóng ván khép kín (chừa khe hở 1 - 1,5cm) để tránh thất thoát thức ăn và cho các loài cá nuôi ghép ăn đáy tận dụng hết thức ăn thừa. 

- Phần nổi:  ghép bằng các thùng phuy (200 lít), hoặc bằng cây tre hay thùng nhựa PVC. Thùng phuy phải được sơn chống rỉ sét và dầu hắc. - Neo bè: để cố định bè, gồm mỏ neo, dây neo nylon có đường kính 2-3cm. Có thể neo 4 góc bè hoặc 2 dây neo và 2 dây cột vào trụ cố định. Hiện nay có nhiều kích cỡ bè khác nhau, kích cỡ truyền thống và phổ biến chủ yếu như sau:

Loại

Kích thước

(dài x rộng x cao) (m)   

Loài cá thả

Độ sâu nước (m)

Thể tích bè m3

Cỡ nhỏ

(6-8) x (3-5) x (2,5 - 3,5)

Tra, Chày

2

20-100

Trung bình

(9-12) x (4-9) x (3,0-3,5)

Tra, basa, hú

2,5 - 3

100 - 500

Bè lớn

(12-30) x (9-12) x (4-4,5)

Tra, basa, hú

3,5 - 4

500 - 1600

Các công cụ và phương tiện cần thiết phục vụ cho nuôi cá bè gồm có: 

- Động cơ để quạt nước (mô tơ điện hoặc máy diezen) hỗ trợ dòng chảy trong bè, nhất là từ giữa đến cuối mùa khô, nước chảy chậm, phù sa và cặn bã tích tụ trong bè, gây thiếu oxy cho cá. 

- Thuyền, ghe lắp máy để vận chuyển thức ăn, mua nguyên vật liệu và hổ trợ bơm nước. - Lò nấu thức ăn. 

- Máy xay, trộn và ép thức ăn. 

2. Vị trí để đặt bè nuôi cá.  

Bè được đặt nổi và neo cố định tại một điểm trên sông, vì vậy phải lựa chọn những vị trí thích hợp nhiều mặt, tiện lợi cho nuôi cá, nhưng không làm cản trở giao thông và hạn chế sự ô nhiễm môi trường nước. 

Bè được đặt gần bờ dọc theo chiều nước chảy, nơi thoáng, có dòng chảy liên tục, lưu tốc thích hợp (0, 2 -,5m/giây), mực nước sông ít thay đổi theo thủy triều và độ sâu tối thiểu phải cao hơn chiều cao ngập nước của bè 0,5 - 1m để tránh cho bè không bị đội lên mặt nước. 

Nước sông nơi đặt bè không ảnh hưởng trực tiếp nước phèn, trong mùa khô khi nước bị nhiễm mặn thì độ mặn cho phép cá chịu đựng được và không thay đổi đột ngột. Nguồn nước lưu thông tương đối trong sạch, không bị ô nhiễm, nhất là gần các cống nước, thải đô thị, nước thải các nhà máy sử dụng hóa chất, nhà máy giấy, nhuộm, tẩy rửa và chứa các độc tố, các khu ruộng lúa sử dụng thuốc sát trùng ... Tránh nơi có luồng nước ngầm, nơi khúc quanh của sông, nơi sông bồi tụ, xói lở, nơi có nhiều rong cỏ, nơi dòng nước có quá nhiều phù sa. 

Ngoài ra, bè nuôi cá nên đặt gần nguồn cung cấp thực phẩm nuôi cá, vị trí thuận tiện giao lưu, gần các trục lộ giao thông thủy bộ để việc vận chuyển thức ăn, cá giống và buôn bán cá thịt được dễ dàng thuận lợi. Khi chọn vị trí đặt bè phải xem xét nhiều mặt, cân nhắc hợp lý các điều kiện và các tiêu chuẩn trên để quyết định chính xác, vì việc di chuyển bè rất khó khăn, tốn kém và ảnh hưởng đến cá nuôi và kết quả nuôi. Tuy nhiên, lưu tốc dòng chảy, chất lượng nước và nguồn nguyên liệu thức ăn là những yếu tố quan trọng hàng đầu
 
Giống và chọn giống
 

Giống cá tra và basa nuôi hiện nay có 2 nguồn: Vớt trong tự nhiên và sinh sản nhân tạo. Chúng ta đã chủ động trong sản xuất cá tra, cá basa đang từng bước hoàn thiện và nâng cao sản lượng cá nhân tạo. 

Sau đây giới thiệu một số đặc điểm sinh học và biện pháp kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo 2 loài trên. 

1. Đặc điểm sinh học của cá tra và basa:  

Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và basa (Pangasius bocourti) là 2 loài cá bản địa của Việt Nam và một số nước lân cận (Lào, Campuchia và Thái Lan). Cá basa là loài được nuôi truyền thống trong bè trên sông Mêkông của Việt Nam và Campuchia trong khi đó cá tra được nuôi nhiều trong ao cầu ở đồng bằng Nam bộ Việt Nam trước đây

Phân loại: 2 loài này thuộc bộ cá nheo (Siluriformes), họ cá tra (Pangasiidae). Hiện tại đã có 11 loài thuộc họ cá tra được tìm thấy ở Việt Nam, trong đó có 5 loài là đối tượng nuôi quan trọng trong ao và bè. Cá tra và basa có thân dài, không vẩy, màu sắc đen xám, bụng hơi bạc, bụng cá basa to tròn vì có lá mỡ rất lớn (nên trước đây gọi là cá bụng), miệng rộng và có 2 đôi râu dài. Cá sông chủ yếu ở nước ngọt, chịu được nước lợ nhẹ (độ muối dưới 10 phần ngàn), chịu đựng được nước phèn có pH>4. 

Cá tra có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được ở những ao hồ chật hẹp, thiếu Oxy, nên nuôi được mật độ rất cao. 

Cá basa chỉ sống chủ yếu ở sông nước chảy và được nuôi trong bè, chịu đựng điều kiện chật hẹp, thiếu Oxy kém hơn cá tra. 

Cả 2 loài đều có tính ăn tạp thiên về động vật, thích ăn mồi có nguồn gốc động vật và cũng dễ dàng chuyển đổi  loại thức ăn. Trong vòng đời của cá, giai đoạn cá bột hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, ăn các loài động vật phù du có kích thước vừa cỡ miệng. Thậm chí cá tra bột còn ăn thịt lẫn nhau trong bể ương nuôi. Khi phân tích thức ăn trong ruột của cá đánh bắt ngoài tự nhiên, thành phần thức ăn được tìm thấy như sau: 

Cá tra: 

Nhuyễn thể:        35,4% 

Cá:                    31,8% 

Côn trùng:          18,2% 

Thực vật thượng đẳng:    10,7%   

Cá basa: 

Mùn bã               63,1% 

Rễ thực vật         21,1% 

Giáp xác            14% 

Trái cây              12,1% 

Côn trùng            6,7% 

Nhuyễn thể         5,4% 

Cá                     4,5% 

Khi nuôi trong ao, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức như mùn bã hữu cơ, cám, rau, động vật đáy, thức ăn hỗn hợp và rất thích phân cầu. Cá basa cũng dễ dàng sử dụng các loại thức ăn khác nhau như hỗn hợp tấm, cám, rau và cá vụn (nấu chín) nên thích hợp cho nuôi dưỡng trong bè. 

Trong tự nhiên, cá tra có thể sống trên 20 năm, cỡ cá lớn nhất đã gặp dài 1,8m. Nuôi trong ao một năm đạt 1-1,5kg/con. 

Cá basa cũng có tốc độ lớn khá nhanh, sau một năm nuôi lớn được 0,7 - 1,3kg/con. Nuôi trong bè sau 2 năm đạt tới 2,5kg/con. Trong tự nhiên đã gặp cỡ cá dài 0,5m 

Trong tự nhiên, tuổi thành thục của cá tra từ 3-4 năm, cá basa từ 4-5 năm. Vào mùa thành thục (từ tháng tư trở đi) cá có tập tính bơi ngược dòng di cư tìm đến các bãi đẻ, nơi có điều kiện sinh thái phù hợp cho sự phát triển của tuyến sinh dục và đẻ trứng. Vì vậy cá không đẻ tự nhiên ở phần sông Mêkông của Việt Nam. Bãi đẻ của cá nằm ở khu vực từ địa phận tỉnh Cratie của Campuchia trở lên. Tại đây có thể bắt được những cá bố mẹ 15kg với buồng trứng đã thành thục. Tại bãi đẻ, cá bố mẹ đẻ trứng thụ tinh tự nhiên, trứng dính vào cây cỏ thủy sinh ven bờ. Sau khi nở, cá bột trôi theo dòng nước về hạ lưu đến các vùng ngập nước ở Campuchia và xuôi theo sông Mêkông về phía Việt Nam. 

Tại vùng biên giới giáp Campuchia và Việt Nam, ngư dân có truyền thống vớt cá tra bột bằng các dụng cụ gọi là "đáy". Hàng trăm triệu bột cá tra (kể cả cá thuộc họ cá tra) và các loài cá khác được vớt lên. Nhưng để thu chỉ cá tra bột, ngư dân đã ép lọc loại bỏ những loài cá khác, do đó đã giết một số lượng lớn gấp hàng chục lần số lượng cá tra bột. Hình thức này đã làm thiệt hại nghiêm trọng đến nguồn lợi cá tự nhiên trên sông. Hiện nay, chúng ta đã chủ động nuôi vỗ cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo, ương nuôi cá giống cá tra, nên đã hạn chế được nghề vớt cá bột trên sông. Cá basa cũng đã chủ động được một phần. 

2. Kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá tra và basa  

2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ:  

Cá bố mẹ chọn nuôi vỗ phải khỏe mạnh, có độ tuổi 3 tuổi trở lên (nặng 2,5-3kg). Nơi nuôi cá bố mẹ: có thể trong ao đất hoặc trong bè: 

- Trong ao đất: diện tích ao ít nhất 500 mét vuông trở lên (cá tra) và 1500 mét vuông (cá basa), độ sâu từ 1,2-1,5m. Nguồn nước cấp cho ao phải sạch và chủ động cấp thoát. Ao nuôi phải được thay nước thường xuyên, có thể lợi dụng thủy triều hàng ngày để thay nước cho ao. 

- Nuôi trong bè: Bè đặt trên sông nước chảy để thuận lợi cho sự  thành thục của cá bố mẹ. Mật độ thả nuôi: Trong ao: 2kg/10 mét vuông (cá tra), 0,5 - 1kg/10 mét vuông (basa) Trong bè: 1kg trên mét khối (cá tra), 0,5 kg trên mét khối (basa) Có thể nuôi chung đực cái trong ao hoặc bè, tỷ lệ đực/cái là 0,7-1/1 

2.2. Mùa vụ nuôi vỗ và thức ăn cho bố mẹ:  

Mùa vụ nuôi vỗ bắt đầu từ tháng 9 - 10 hàng năm, thức ăn phải có hàm lượng đạm 30% (cá tra) và 35% (basa) trở lên. Có thể sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương để chế biến thức ăn hỗn hợp cho cá bố mẹ. Các loại nguyên liệu chính là cá tạp tươi, cá khô, bột cá, ruốc, bột đậu nành, cám gạo, tấm, bột bắp, bánh dầu, rau xanh, bí, cơm, dừa v.v... Cần phối chế hợp lý các thành phần để đảm bảo đủ hàm lượng đạm trong thức ăn. Nếu hỗn hợp thức ăn là nguyên liệu cá tươi thì khẩu phần ăn cho cá 4-6% trọng lượng thân cá/ngày. Nếu là thức ăn công nghiệp dạng khô (viên) thì 1-2% mỗi ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 1-2 lần. Thức ăn hỗn hợp chế biến cho cá bố mẹ trong bè phải có độ dẻo và dính để giảm bớt sự  tan rã  trong nước làm lãng phí thức ăn. Trong ao có thể để thức ăn trong sàn (nong, nia) treo cách đáy 0,2 - 0,3m. 

2.3 Cho đẻ nhân tạo  

2.3.1 Chọn cá bố mẹ 

- Chọn cá đã nuôi vỗ thành thục có buồng trứng phát triển ở giai đoạn bốn (IV), ngoại hình cá cái bụng to, mềm, lỗ sinh dục hồng, các hạt trứng đều, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt, đường kính đa số 1mm trở lên (cá tra) và 1,8mm trở lên (cá basa). Cá đực có tinh dịch tốt, trắng và đặc. 2.3.2 Sử dụng kích dục tố: Các loại kích dục tố đang sử dụng phổ biến hiện nay là HCG (Human chorionic gonadotropin), LHRH a (Lutenizing hormone Releasing hormone) và não thùy thể cá (chép, mè, trê, tra ...) 

Kích dục tố có thể dùng đơn hoặc kết hợp nhiều loại (cho liều tiêm quyết định). Dùng phương pháp tiêm nhiều lần sơ bộ (1-4 lần) và 1 lần quyết định cho cá cái, cá đực thì tiêm 1 lần cùng với liều quyết định của cá cái. 

Đối với HCG: Tiêm sơ bộ 300-1000 UI/kg cá cái Tiêm quyết định 2500-3000UI/kg cá cái Não thùy thể cá phối hợp HCG: 

Liều sơ bộ: 0,2 - 0,3mg não thùy/kg cá cái 

Liều quyết định: 1500-2000 UI (HCG) + 3 -5mg não thùy 

Hoặc 70 - 100microgam LHRHa +3 -5mg não thùy/kg cá cái 

Cá đực chỉ  tiêm 1 lần với lượng dùng 1/4 - 1/3 so với liều quyết định của cá cái. Ngoài ra, tuỳ theo chất lượng và độ thành thục của trứng để điều chỉnh liều lượng và phối hợp chủng loại kích dục tố cho thích hợp. Điều này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và tay nghề của người kỹ thuật 

Thời gian hiệu ứng của kích dục tố sau liều tiêm quyết định từ 8-12 giờ. Khi cá rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và thụ tinh nhân tạo. Có thể khử dính trứng (sau khi thụ tinh) bằng Tanin hoặc không cần khử dính, cho trứng dính trên các giá thể làm bằng lưới nylon. Ấp trứng trong bể ấp hoặc bình weise (vây) 

Ở nhiệt độ nước 28 - 30 độ C, cá bột sẽ nở sau 20 - 24 giờ (cá tra) và 28-33 giờ (basa). Cá tra sau khi nở 20 - 24 giờ, nhanh chóng chuyển cá xuống ao ương để tránh tình trạng cá ăn thịt lẫn nhau khi bắt đầu hết noãn hoàng. Đối với cá basa, nên chuyển cá bột hết noãn hoàng vào ương trong bể ximăng, cá bột basa không ăn thịt lẫn nhau như cá tra bột. 

2.3.3 Ương cá giống: 

Ao có diện tích tối thiểu 500 mét vuông trở lên, độ sâu nước 1 - 1,5m. Chuẩn bị ao theo quy trình chung ương nuôi các loài cá: tát cạn, diệt hết cá tạp, cá dữ, vét bớt bùn đáy, rải vôi bột (7-10kg/100 mét vuông đáy ao), phơi đáy 1-2 ngày, bón lót phân chuồng 10-15kg trên 100 mét vuông (phân gà, cút, heo ...) hoặc 1-1,5kg (lân + urê) trên 100 mét vuông đáy ao. Sau đó đưa nước sâu 0,3 - 0,4m và thả giống trùng chỉ và trứng nước (Moina). 

Thả cá bột và tiếp tục đưa nước từ từ vào ao cho đến khi đạt yêu cầu. Mật độ thả 400-500 con trên mét vuông. Các khâu trên là nhằm đảm bảo được lượng thức ăn tự  nhiên cho cá ngay sau khi cá bột xuống ao, hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của chúng. 

Sau khi thả bột, hàng ngày bổ sung tiếp tục thức ăn cho cá: cứ 10.000 cá bột dùng 200 gam đậu nành xay nhuyễn, nấu chín và 20 lòng đỏ hột vịt (luộc chín), trộn đều và rải đều khắp ao. 

Sau 10 ngày, tăng lượng thức ăn thêm 50% và cho ăn dậm trùng chỉ.

Sau tuần lễ thứ 2 có thể cho ăn thức ăn chế biến bằng cá và ốc (phần thịt) xay nhuyễn trộn bột gòn. 

Sau 1 tháng, cho ăn cám + bột cá (tỷ lệ 1/1) hoặc cám + cá tươi (tỷ lệ 1/2), mỗi ngày cho ăn 3-4 lần, khẩu phần ăn 5-7% trọng lượng cá. 

Sau 3-4 tháng ương nuôi, cá đạt cỡ 12-15 con trên kg thì chuyển sang nuôi cá thịt. Đối với cá basa, ương cá bột trên bể ximăng với thức ăn là Moina hoặc ấu trùng Artemia, sau 1 tuần cung cấp bổ sung thêm trùng chỉ. 

Sau 2 tuần chuyển cá xuống ương trong ao đất hoặc san thưa ương trong bể. Thức ăn là Moina + trùng chỉ + thức ăn chế biến (cá tươi xay nhuyễn và cám) cho đến khi 2 tháng tuổi. 

Sau đó cá giống tiếp tục được ương nuôi trong bè cỡ nhỏ trong khoảng 4-5 tháng, khi cá đạt cỡ 10-15 con/ kg sẽ chuyển vào bè nuôi cá thịt. Đối với cá basa giống nhỏ thu gom từ  tự  nhiên, với cỡ cá 5-6g/con, sau khi mua hoặc đánh bắt về cần ương tiếp trong bè nhỏ 3-4 tháng cho đến khi đạt cỡ 80-100g/con mới đưa vào bè nuôi cá thịt. 

 

MỘT SỐ VẤN ĐỀ KỸ THUẬT CHỌN GIỐNG NUÔI  

1. Phẩm chất giống  

Cá thả nuôi vào bè cần được tuyển chọn cẩn thận để đảm bảo phẩm chất và đàn cá tăng trưởng tốt trong quá trình nuôi: 

- Đàn cá phải khỏe mạnh, không có dấu hiệu bệnh tật, xây xát, loại bỏ những cá bị dị hình. Quan sát trong dụng cụ chứa cá giống thấy cá bơi lội nhanh nhẹn. 

- Quy cỡ cá phải đồng đều, tương đương nhau về kích thước. 

Tránh thả các loạt cá quá lớn lẫn với cá quá nhỏ dẫn đến tình trạng cá lớn tranh ăn với cá nhỏ, làm cho chênh lệch đàn cá nuôi. 

Trước khi thả cá xuống bè nuôi, phải tắm nước muối 8-10 phần ngàn để cá chóng lành các vết thương, đồng thời giết được các ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Khi thả cá vào bè, cần thả  từ  từ  để cá làm quen với điều kiện mới. Tốt nhất là ngâm bao chứa cá giống trong nước bè 15-20 phút mới thả cá ra. Nếu vận chuyển bằng ghe đục thì dùng lưới mắt nhỏ không gút để kéo cá, thao tác nhẹ nhàng tránh cá bị  xây xát. 

Hiện nay, cá giống cá tra đã gần như chủ động từ nguồn cá sinh sản nhân tạo, do đó có điều kiện để lựa chọn, kiểm tra và đáp ứng được yêu cầu, chất lượng cá nuôi. Nhưng cá basa giống vẫn còn phụ thuộc phần lớn vào nguồn giống tự nhiên, được đánh bắt, thu gom từ các nguồn khác nhau (từ các người câu, từ thương lái ở Campuchia về ...) do đó số lượng, quy cỡ và chất lượng chưa thể chủ động được. Theo ước tính hàng năm nghề nuôi bè chỉ riêng các tỉnh An Giang và Đồng Tháp cần thả 15 triệu giống cá basa, trong đó 95% được chuyển trực tiếp từ Campuchia hoặc gần biên giới Campuchia về Việt Nam. Cỡ cá 60-100 gam được chuyển theo các bè đóng bằng tre, vừa là nơi giữ cá và nuôi dưỡng cá giống cho đến khi cá được bán hết cho các bè nuôi. Chỉ có một lượng nhỏ cá giống basa được đánh bắt trong nội địa (8) 

2. Mật độ thả nuôi 

Số cá thả nuôi cho một bè rất khác nhau, dao động từ 20.00 - 50.000 con cá giống/bè. Kết quả tổng kết (8) cho thấy ở bè cỡ nhỏ thả mật độ cao hơn so với bè cỡ lớn. Mật độ thả nuôi nói chung rất cao, trung bình 80 - 120 con trên mét khối (cá tra) và 90 - 150 con trên mét khối (cá basa). Cá cỡ nhỏ thì thả dày hơn cá lớn. Cỡ cá tra thả nuôi từ 60-80g/con, cá basa từ 80-100g/con. 
 

MÙA VỤ NUÔI  

Ở đồng bằng sông Cửu Long, do có điều kiện thuận lợi khí hậu ấm áp quanh năm, nên có thể thả giống cá nuôi vào bất kỳ thời gian nào trong năm. Điều này chỉ tùy thuộc vào việc các chủ bè thu hoạch bán hết cá thì sẽ nuôi vụ tiếp theo. Nhưng có 2 vụ chính để thả giống vào bè như sau: Thời gian gần đây, giống cá basa không đủ cung cấp cho người nuôi và giá quá cao, nên một số chủ bè đã kéo dài thêm thời gian nuôi 6-9 tháng nữa, vì vậy cỡ cá thu hoạch cũng lớn hơn (có thể đạt 1,8 - 2,2 kg/con) 

Trong quá trình nuôi, chỉ thu hoạch một lần hết số cá. Vì kinh nghiệm cho thấy, nếu thu hoạch một phần (thu tỉa), thì số cá còn lại dễ bị sốc, thường bỏ ăn dẫn đến hao hụt lớn. Chủ bè có thể mong đợi khi thu hoạch có giá bán cao để có lợi nhuận nhiều hơn. 

 

THỨC ĂN NUÔI CÁ BÈ  

1. Các nguồn nguyên liệu dùng chế biến thức ăn cho cá.  

Nguyên liệu dùng làm thức ăn cho cá tương đối phong phú và dễ kiếm ở các địa phương đồng bằng sông Cửu Long. Có thể kể đến các loại như: cám gạo, tấm, bột bắp, đậu nành, bánh khô dầu, bột cá, cá tạp vụn, rau xanh, cơm dừa, v.v... Trong đó 3 thành phần chính là cám gạo, cá tạp và rau xanh được sử dụng nhiều nhất để chế biến thức ăn cho cá nuôi bè hiện nay. 

Dựa vào đặc tính ăn tạp và dễ chuyển đổi thức ăn mà vẫn tăng trọng nhanh, người nuôi có thể phối hợp một số thành phần nguyên liệu trên, xay nhuyễn, trộn đều và nấu chín cho cá ăn. Nhìn chung giá trị dinh dưỡng của thức ăn không cao lắm, có hàm lượng đạm thấp, chất bột đường và xơ cao. Nhưng chú ý trong 2-3 tháng đầu tiên cần đảm bảo hàm lượng đạm từ 20-28% để cá có đủ sức và lớn nhanh trong giai đoạn kế tiếp. Thời kỳ tiếp theo cho đến khi thu hoạch, hàm lượng đạm trong thức ăn chỉ khoảng 15-18%, còn chủ yếu vẫn là chất bột đườjng (40-45%), còn lại dành cho chất béo (8-11%), xơ (14 - 20%) và tro (16-22%) (9). Để đạt được giá trị dinh dưỡng trên, thành phần nguyên liệu để phối trộn như sau:  

 Nguyên liệu       

 Cá basa   

 Cá tra

 Ghi chú

 Cá tạp

 23 - 27%

 15 - 20%

 

 Cám gạo   

 55 - 60%

 45 - 55%

 

 Tấm

 12 - 15%

 -

 

 Rau xanh

 25 - 30%

 40 - 45%

 

 Thành phần khác

 5 - 10%

 -

 Cua, ốc, ruột gà

Hiện nay khu vực nuôi cá bè tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có tới 99% thức ăn được chế biến hỗn hợp, chỉ có khoảng 1% là thức ăn công nghiệp (thức ăn viên). Sự  tiện lợi của thức ăn chế biến hỗn hợp là dễ kiếm từ các nguồn nguyên liệu địa phương và ngư dân có thể chế biến tại bè. Nhưng loại thức ăn này thường giá trị dinh dưỡng thấp, hàm lượng dinh dưỡng không ổn định, mất nhiều thời gian  chế biến và cho ăn. Vì vậy thời gian nuôi thường kéo dài và cá tích lũy nhiều mỡ. Để khắc phục tình trạng trên, cần có sự phối chế thành nguyên liệu hợp lý, tăng thêm thành phần nguyên liệu chứa nhiều đạm hơn. Biện pháp dùng thức ăn công nghiệp thay thế dần thức ăn chế biến hỗn hợp cũng cần được chú trọng và khuyến khích áp dụng, có ý nghĩa giữ cho môi trường nước nuôi giảm được ô nhiễm và góp phần sử dụng nguồn cá tạp hợp lý hơn. 

2. Phương pháp chế biến thức ăn  

Các nguyên liệu được xay nhuyễn và trộn với thức cám rồi nấu chín (trừ rau xanh), sau đó được trộn đều với rau, có thể pha thêm 1% bột lá gòn để tăng thêm độ kết dính của thức ăn. 

3. Phương pháp cho cá ăn  

Thức ăn sau khi ép và cắt thành dạng sợi hoặc viên, được phơi cho se mặt, hoặc nếu không cắt bằng máy thì dùng tay vo viên đưa xuống cho cá ăn. Khâu cho ăn bằng tay tốn nhiều thời gian và lao động. Thức ăn ép cắt bằng máy đã rút ngắn thời gian cho ăn và giảm đáng kể cường độ và nhân lực lao động. Với cá basa, cho ăn từ 2-3 lần/ngày, cá có đặc tính ít tranh ăn và khi ăn no sẽ xuống đáy bè. Đối với cá tra, thường cho ăn 1-2 lần trong ngày. Cá tra háu ăn và tranh mồi nhiều, do đó con lớn thường giành được ăn trước cá con nhỏ hơn. Cá nào đã ăn no sẽ bỏ đi, còn lại những con chưa được ăn no tiếp tục ăn. Vì vậy thời gian cho cá tra ăn thường kéo dài hơn cá basa. Khẩu phần ăn tùy thuộc vào sức ăn của cá, thường từ 3-5% trọng lượng cá/ngày. Hệ số tiêu tốn thức ăn với dạng thức ăn chế biến (đã trình bày ở phần trên) của cá tra trung bình 3-3,2. Thấp hơn so với cá basa, trung bình 3-4. 

Khi cho cá ăn, cần chú ý các điểm sau: 

- Nên cho ăn vào lúc thủy triều lên hoặc xuống để kích thích cá bắt mồi, cá đã ăn no khi nước sông chảy mạnh thì đảm bảo đủ oxy và cá không bị mệt. 

- Thức ăn đưa xuống từ  từ  hoặc cho ăn nhiều điểm để tất cả đều được  ăn. 

- Quan sát hoạt động bắt mồi của cá, theo dõi mức tăng trưởng, mức tiêu thụ thức ăn của đàn cá để kịp thời điều chỉnh phù hợp nhu cầu của cá. 

- Theo dõi tình hình sức khỏe của cá, khi phát hiện bệnh cần phải giảm hoặc ngưng cho ăn để tìm biện pháp xử lý bệnh. 

- Thức ăn chế biến không để lâu hoặc ôi thiu mới cho ăn sẽ dễ gây bệnh cho cá. 

 

QUẢN LÝ CHĂM SÓC.  

Đây là khâu đòi hỏi người nuôi phải hết sức quan tâm và cần nhiều kinh nghiệm để đảm bảo sự thành công của vụ nuôi. 

- Trước khi thả cá bè phải được dọn vệ sinh sạch sẽ, tẩy trùng toàn bộ trong bè, chú ý tất cả các ngóc ngách, góc cạnh của bè, nơi ẩn chứa vi khuẩn có hại và nguồn gây bệnh cho cá. Kiểm tra và thay thế ngay các phần, các chi tiết bị mục, bị hư hại, tu sửa lại hệ thống dây neo, neo, phao và thay mới những phần đã bị hư, đứt. 

- Vào mùa khô (tháng 11 - 4), theo quy luật thủy triều, mỗi ngày có 2 thời điểm nước chảy yếu hoặc chậm (thời gian đổi nước giữa 2 con nước), nên cá dễ bị thiếu oxy. Cần dùng ngay máy đuôi tôm đặt ở đầu bè quạt nước chảy mạnh qua bè để tăng hàm lượng oxy hòa tan trong nước. 

- Vào mùa mưa lũ, nước sông mang nhiều phù sa và lắng đọng nhiều ở đáy bè, cần phải thường xuyên theo dõi và kịp thời dùng máy bơm hoặc máy đuôi tôm quạt nước để thổi bùn ra khỏi bè (3-5 ngày/lần). Chân vịt máy đuôi tôm phải có vòng bảo hiểm để không chạm vào cá hoặc khi bị tuột ra không làm hư bè. 

- Thường xuyên kiểm tra neo và dây neo, nhất là vào mùa lũ, cần tăng cường thêm dây neo khi thấy cần thiết. Phải dự  phòng kế hoạch đột xuất trong trường hợp bắt buộc phải di chuyển bè tránh dòng nước lũ quá mạnh. Hàng tuần phải lặn để kiểm tra quanh bè, xem xét lưới kẽm có suy xuyển hoặc hư hại phải lập tức tu sửa. Gỡ bỏ và vớt hết rác rưởi, cây cỏ ... bám vào bè làm giảm dòng chảy qua bè. 

 

TĂNG TRƯỞNG VÀ SẢN LƯỢNG CÁ NUÔI  

Sau vụ nuôi 10-12 tháng, cá có thể đạt cỡ 1-1,3kg (cá tra) và 1,3-1,5kg/con (cá basa). Một số bè nuôi lưu cá basa thêm 6-9 tháng, cỡ cá có thể đạt tới 1,8 - 2,2kg/con. Đôi khi cá thu hoạch dựa vào thời điểm, giá cả và lợi nhuận tính toán hoặc phụ thuộc vào người mua (các công ty chế biến xuất khẩu) 

Năng suất nuôi hiện nay khoảng 120kg trên mét khối bè nuôi và sản lượng cá thu hoạch trung bình từ 50-160 tấn/bè tuỳ theo quy cỡ bè. Điều này khẳng định việc nuôi cá basa và cá tra trong bè cỡ lớn với mật độ cao vẫn cho kết quả tốt. Trước khi thu hoạch 2-3 ngày, phải giảm lượng thức ăn và ngày cuối ngưng hẳn. Khi thu cá, dùng lưới bắt từ từ và ngày cuối ngưng hẳn. Khi thu cá, dùng lưới bắt từ từ cho đến hết. 

Nên thu trong một thời gian ngắn để tránh hao hụt và thất thoát. Hiện nay hàng năm khoảng 70% sản lượng cá basa và 30% sản lượng cá tra nuôi bè ở An Giang và Đồng Tháp được thu mua chế biến xuất khẩu. Số còn lại được lưu thông tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. 
 
 
Comments
Search
Only registered users can write comments!

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."

 
Newer news items
Older news items
          Next Page>>
< Trước   Tiếp >
 

sản phẩm mới

Máy diệt tảo XXL, không hóa chất
Máy diệt tảo XXL, không hóa chất

Máy diệt tảo XL, không hóa chất
Máy diệt tảo XL, không hóa chất

Máy diệt tảo Tank, không hóa chất
Máy diệt tảo Tank, không hóa chất

Naturland

Tài liệu về Naturland,
Sau đây là các tài liệu thông tin về Naturland Đức ( tài liệu tiếng Anh)
Quy trình đăng ký, nuôi trồng và sản xuất theo chất lượng của Naturland đề ra cho các lãnh vực sẽ được cập nhật thưởng xuyên, Nếu Quí vị có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp với  Công Ty Diệp Lục ( Chlorophyll Ltd. )
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>

Vermiculture, nuôi trùn

Trùn đất là loại động vật cần cho chăn nuôi nhất là nuôi gà vịt trong hộ gia đình . Nó là nguồn đạm tốt cho gà vịt.
 Theo Fosgate (1972) nếu trùn được sấy khô nghiền bột , nó là loại thúc ăn bổ sung đạm giàu protein , có các aminoaxít cân đối và một lượng khoán hợp lý. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của trùn đất cho thấy:

Môi trường

Thủy triều đỏ (red tide), hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml)
Newer news items
Older news items
<< Previous Page