Home arrow Contents arrow Vermi culture arrow Application arrow Phân Trùn quế - Vermicompost
Phân Trùn quế - Vermicompost | Print |
 Giới thiệu: Bất cứ đơn vị trồng trọt nào cũng cần nguồn phân hữu cơ sạch để sản xuất ra những sản phẩm sạch và cho năng suất cao, bền vững; Phân trùn quế được đánh giá là nguồn phân sạch nhất, giàu dưỡng nhất và thích hợp nhất cho tất cả các loại cây trồng hiện nay.
Phân trùn quế:

Sau khi ăn các loại chất thãi hữu cơ, trùn quế sẽ cho ra nguồn phân hữu cơ (vermicompost) sạch và đồng nhất; Phân trùn có màu nâu sẫm, dạng đất mùn, có lẫn trứng và ấu trùng của trùn quế. Theo các nhà nghiên cứu, phân trùn là loại phân hữu cơ tự nhiên duy nhất hiện nay có chứa đầy đủ hàm lượng các chất cần thiết cho các loại cây trồng, đặc biệt cho các loại cây ngắn ngày như đậu, bắp, hay các loại cây la – ghim khác


Giá trị sử dụng:

So với các loại phân chuồng hay phân hữu cơ khác, phân trùn cho hiệu quả cao hơn. Cụ thể: phân trùn có khả năng giúp nhà nông hay người làm vườn rút ngắn thời gian trồng, cây phát triển đều, kháng sâu bệnh tốt hơn, đặc biệt phân trùn phát huy tác dụng tốt trong hai mùa vụ ngắn ngày liên tiếp; Phân trùn không để lại trong cây trồng hay trong đất bất cứ dư lượng hoá chất hay phụ phẩm độc hại nào. Trong các chương trình sản xuất rau sạch, rau chất lượng cao thì sử dụng phân trùn làm nguồn phân hữu cơ sạch là tốt nhất.

MỘT SỐ ỨNG DỤNG CỦA PHÂN TRÙN

Vermicompost và ứng dụng của nó được coi là phần sản phẩm cuối cùng của quá trình xử lý rác thải hữu cơ với tác nhân phân giải chính là trùn quế nên chúng còn có tên là Earhworm Compost. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy chúng thúc đẩy nhanh sự phát triển của thực vật (Edwards, 2000) và có thể bổ sung chúng vào đất nghèo dinh dưỡng, ngăn cản sự xói mòn đến mức thấp nhất.

Cấu trúc vật lý cuối cùng của sản phẩm vermicompost phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu sử dụng ban đầu.

Tuy nhiên sản phẩm cuối cùng vermicompost dù đi bất kỳ nguyên liệu ban đầu như thế nào cũng đều cho chung một đặc tính là chúng giống than bùn, tơi, mịn xốp, thoáng khí và giữ ẩm khá tốt và đồng thời nó chứa hàm lượng dinh dưỡng khá cao.

Khi phân tích thành phần, hàm lượng của các nguyên tố trong vermicompost khác nhau, các tác giả đều nhận thấy hàm lượng dinh dưỡng sự biến động, tuỳ thuộc vào nguồn nguyên liệu ban đầu đem xử lý, nhưng khi so với phân hữu cơ hỗn hợp có bổ sung khoáng vô cơ thì tất cả chúng đều chứa các yếu tố cần thiết cho cây trồng với tỷ lệ khá cao, ngoại trừ Mg.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC VẬT TRÊN MÔI TRƯỜNG VERMICOMPOST


Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã cung cấp nhiều số liệu đáng tin cậy cho thấy vermicompost thúc đẩy nhanh sự phát triển của thực vật.

Nghiên cứu về vermicompost sớm nhất là Fosgate và Babb (1972), các tác giả dã nuôi trùn bằng phân chuồng và nhận thấy vermicompost thu được có hiệu lực tương đương với mỗi hỗn hợp dinh dưỡng dùng trong trồng hoa trong nhà kính.

Buchanan và cộng sự (1988) cho rằng hầu hết các dạng vermicompost đều có các yếu tố dinh dưỡng mà ở dạng cây sẵn sàng hấp thụ luôn cao hơn compost có cùng nguồn nguyên, rác hữu cơ ban đầu.

Edwards (1988) phân tích và cho thấy tất cả mẫu vermicompost đều có hàm lượng nitrogen dễ tiêu rất cao.

Một báo cáo khác của Edwards và cộng sự (1985) đã đề cập đến vấn đề này cho biết, hấu hết các hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và thường thì chỉ một lượng rất ít bị mất đi trong quá trình chế biến thành vermicompost.

Trong rất nhiều thí nghiệm kiểm chứng khả năng phát triển của nhiều loài thực vật trên nhiều dạng vermicompost (Edwards và Burrow, 1998), cho thấy hầu hết hạt đều nẩy mầm nhanh hơn, cây con phát triển mạnh mẽ hơn khi so sánh với các dạng phân bón thương mại khác. Kết quả còn cho thấy, nhiều loài thực vật có khả năng phát triển trên môi trường vermicompost và than bùn, đất cát pha sét theo tỷ lệ 3:1 và 1:1.

Nhiều thí nghiệm về khả năng nẩy mầm của đậu hà lan, rau diếp, lúa mì, cải bắp, cà chua, cải bắp và củ cải đều mọc tốt và cây con khỏe hơn hẳn so với lô đối chứng là compost từ phân động vật và phân hữu cơ thương mại khác.

Tác động của sự pha loãng phân hữu cơ thương mại với phân trùn, kết quả cho thấy, khi pha loãng với tỷ lệ 5% đến 10% đều cho thấy tốc độ tăng trưởng của cây con đều cao hơn hẳn, thậm chí với tỷ lệ pha loãng thấp nhất so với chỉ bón đơn lẻ bằng phân hữu cơ thương mại.



Thành phần hoá học của garden compost và vermicompost:

Thành phần hoá học

Garden compost
(Có nguồn từ thực vật)

Vermicompost
(Có nguồn gốc từ phân chuồng)

pH

7, 80

6, 80

EC (mmhos/cm)**

3, 60

11, 70

Total Kjeldahl nitrogen (%) ***

0, 80

1, 94

 

Nitrate Nitrogen (ppm) ****

156, 50

902, 20

Phosphorous (%)

0, 35

0, 47

Potassium (%) 

0, 48

0, 70

Calcium (%)

2, 27

4, 40

Sodium (%)

< 0, 01

0, 02

Magnesium (%)

0, 57

0, 46

Iron (ppm)

11690, 00

7563, 00

Zinc (ppm)

128, 00

278, 00

Manganese (ppm)

414, 00

475, 00

Copper (ppm)

17, 00

27, 00

Boron (ppm)

25, 00

34, 00

Aluminum (ppm)

7380, 00

7012, 00

Comments
Search
Only registered users can write comments!

3.26 Copyright (C) 2008 Compojoom.com / Copyright (C) 2007 Alain Georgette / Copyright (C) 2006 Frantisek Hliva. All rights reserved."

 
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>
< Prev   Next >

Naturland

Tài liệu về Naturland,
Sau đây là các tài liệu thông tin về Naturland Đức ( tài liệu tiếng Anh)
Quy trình đăng ký, nuôi trồng và sản xuất theo chất lượng của Naturland đề ra cho các lãnh vực sẽ được cập nhật thưởng xuyên, Nếu Quí vị có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp với  Công Ty Diệp Lục ( Chlorophyll Ltd. )
Newer news items
Older news items
<< Previous Page                    Next Page>>

Vermiculture, nuôi trùn

Trùn đất là loại động vật cần cho chăn nuôi nhất là nuôi gà vịt trong hộ gia đình . Nó là nguồn đạm tốt cho gà vịt.
 Theo Fosgate (1972) nếu trùn được sấy khô nghiền bột , nó là loại thúc ăn bổ sung đạm giàu protein , có các aminoaxít cân đối và một lượng khoán hợp lý. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng của trùn đất cho thấy:

Môi trường

Thủy triều đỏ (red tide), hiện tượng nở hoa nước (water bloom) là thuật ngữ chỉ sự nở hoa của các loài vi tảo. Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra do mật độ tế bào vi tảo gia tăng lên đến hàng triệu tế bào/lít (thông thường có khoảng 10 - 100 tế bào vi tảo/ml, nhưng trong trường hợp “nở hoa” mật độ có thể lên trên 10.000 tế bào/ml)
Newer news items
Older news items
<< Previous Page