Saturday, Jul 31st

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Chăn nuôi

Cá lăng nha dễ nuôi, thu nhập cao

Trong dịp đến thăm người bà con ở tỉnh Đồng Nai, tôi được biết về một mô hình nuôi cá lăng nha trong ao cho thu nhập cao của anh Phạm Văn Hùng, ngụ ấp Suối Quýt, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành.

 

Được Trạm khuyến nông huyện Long Thành tận tình hướng dẫn kỹ thuật, năm 2007, anh Phạm Văn Hùng đã mạnh dạn vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp huyện đầu tư thực hiện mô hình nuôi cá lăng nha trong ao. Anh Hùng cải tạo 1.500m2 ao cạnh nhà, lên bờ bao và làm vệ sinh sạch sẽ bằng 105kg vôi bột rồi phơi đáy ao 5 ngày. Tiếp đó, anh cho nước vào ao và tìm diệt các loại cá lóc, trê, ếch, rắn… Sau đó, anh đầu tư cả chục triệu đồng mua 2.000 con cá lăng nha giống thả vào ao ương nuôi.

Nguồn thức ăn cho cá lăng nha chủ yếu được anh Hùng sử dụng là cá tạp các loại và cá biển bằm nhuyễn… Lúc mới thả cá giống vào ao, anh chỉ cho chúng ăn 2 lần/ngày, vào sáng sớm và chiều tối. Một tháng sau khi thả nuôi, anh tăng lượng thức ăn lên theo quá trình tăng trưởng của cá… Cá lăng nha có tập tính ăn mạnh về đêm nên lượng thức ăn ban đêm được anh tăng gấp đôi so với lượng thức ăn ban ngày. Theo anh Hùng thì: Cứ đầu tư khoảng 2kg thức ăn sẽ cho ra 1kg cá lăng nha thương phẩm! Việc phòng ngừa dịch bệnh cho cá cũng được anh thực hiện kịp thời theo đúng quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn của cán bộ khuyến nông huyện. Anh thường xuyên thay nước ao nuôi, định kỳ 3 tháng một lần bón vôi bột trong ao và nơi cho cá ăn, với tổng liều lượng 75kg vôi để diệt mầm bệnh phát sinh…

Sau hơn 10 tháng nuôi, anh Hùng cho tát ao, thu hoạch được hơn 1.600 kg cá lăng nha thương phẩm, bán giá bình quân 70.000đồng/kg, thu trên 100 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư, công chăm sóc và thanh toán vốn - lãi cho Ngân hàng, anh Phạm Văn Hùng còn lãi hơn 50 triệu đồng! Suốt từ năm 2007 đến nay, mô hình nuôi cá lăng nha của anh Hùng đều cho thu nhập cao (trên dưới 50 triệu đồng/vụ nuôi/năm). Anh Phạm Văn Hùng cho biết: “Nuôi cá lăng nha trong ao tuy chi phí đầu tư cao, nhưng bù lại con cá này rất dễ nuôi, ít bị bệnh và khi nuôi nguồn thức ăn cho cá rất dễ tìm…; người nuôi chỉ cần có nguồn nước sạch, cho ăn đầy đủ, chăm sóc, phòng ngừa bệnh đúng quy trình hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Người nuôi có thể nuôi ghép cá lăng nha trong cùng một ao với các loại cá mè, trắm, hường, rô phi… để tăng thêm thu nhập”.

Hiện tại, anh Phạm Văn Hùng đang tiếp tục thả nuôi hơn 2.000 con cá lăng nha trong ao cũ. Đến nay, cá đã được nuôi hơn 5 tháng, đàn cá tăng trọng tốt, không thấy dấu hiệu cá bị bệnh… Nhiều bà con quanh vùng đang tìm đến anh Hùng để tìm hiểu và học hỏi cách thức nuôi cá lăng nha để áp dụng và nhân rộng. 

Nông Nghiệp VN 


KTNT - Lăng nha (Mystus wyckiioides) là loài cá nước ngọt, thịt trắng chắc, không xương dăm, mùi vị thơm ngon, giá trị thương phẩm cao. Trước đây, loại cá này chủ yếu được đánh bắt, khai thác từ tự nhiên. Tháng 7/2006, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang đã sản xuất giống cá lăng nha thành công với sự trợ giúp của Khoa Thủy sản (Trường Đại học Nông - lâm TP.Hồ Chí Minh). Xin giới thiệu cùng bà con kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm.

Điều kiện ao, bè nuôi

Để nuôi cá lăng nha đạt hiệu quả, có thể áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh trong ao hoặc trong bè. Tuy nhiên, nuôi trong bè cá lớn nhanh hơn.

Ao nuôi rộng 1.000m2 trở lên, sâu 1,5 - 2m. Độ che phủ mặt nước không quá 30%. Lớp bùn dày 10 - 15cm, có thể chủ động cấp - thoát nước.

Nếu nuôi bè, bè phải có thể tích 10m3 trở lên, đặt ở nơi có dòng chảy vừa phải.

Nguồn nước dùng để nuôi cá lăng nha phải đảm bảo các thông số: Độ pH từ 6 - 8 (tốt nhất 6,5 - 7,5); ôxy hòa tan trên 3mg/l; độ trong 30 - 40cm; độ mặn 0 - 50/00, hàm lượng NH3 dưới 0,01mg/l.

Chuẩn bị ao, bè

Việc chuẩn bị ao, bè có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Nếu tẩy trùng ao, bè tốt thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển.

Tẩy dọn ao: Sau khi tháo cạn nước, dùng vôi nông nghiệp (CaCO3) rải đều khắp đáy ao với lượng 10 - 15kg/100m2.

Ngay sau khi bón vôi, sử dụng sản phẩm chuyên dùng để hấp thụ khí độc hoặc chế phẩm sinh học Environ AC của Công ty Vĩnh Thịnh xử lý ô nhiễm nền đáy ao với liều 1 - 1,5kg/1000m3 nước để thúc đẩy việc phân huỷ chất hữu cơ và khử khí độc.

Phơi nắng đáy ao 1 - 2 ngày rồi khử trùng ao một lần nữa bằng một trong các sản phẩm BKC, liều 0,7 - 1lít/1000m3 hoặc Sanmolt F, liều 1 - 1,5 lít/1000m3. Không nên bón lót ao bằng phân chuồng.

Đối với bè, kiểm tra, gia cố bè thật kỹ trước khi thả cá. Dùng BKS hoặc Sanmolt F phun vào bè để diệt mầm bệnh. Đặt bè nơi ít sóng gió, dòng chảy vừa phải, thuận lợi trong việc vận chuyển cá, thức ăn.

Thả cá giống

Tiêu chuẩn: Cá không mất nhớt, đuôi và râu không bạc màu; cỡ đồng đều.

Mật độ: Nếu nuôi trong ao bán thâm canh (nuôi ghép): 4-5 con/m2 (trong đó cá lăng nha chiếm 20-30% tổng số cá thả). Thâm canh (nuôi đơn): 6-8 con/m2. Ngoài ra, cần thả thêm 3-5% cá rô phi thường để làm thức ăn cho cá. Nếu nuôi trong bè, mật độ 60-70 con/m3.

Thời gian thả: Tốt nhất vào buổi sáng (8-11 giờ).

Phòng bệnh cho cá bằng cách sát trùng (tắm cá) trước khi thả xuống ao, bè bằng muối ăn (1 muỗng canh pha trong 1 lít nước) hoặc BKS, Sanmolt F theo liều hướng dẫn.

Thức ăn

Có thể cho cá ăn bằng một trong các loại sau: cá tạp, cắt khúc vừa cỡ miệng. Thức ăn tự chế 50% cám + 50% cá. Thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%.

Cho ăn 3 lần/ngày (sáng, chiều và tối). Cữ tối chiếm 40-50% tổng lượng thức ăn trong ngày.

Nên bổ sung chất bổ vào thức ăn để giúp cá tăng sức đề kháng, tiêu hoá tốt, lớn nhanh hơn như: Các loại Vitamin C; chế phẩm vi sinh vật, men tiêu hoá (Aqualact 1g/kg thức ăn); các sản phẩm chứa axít amin, sorbitol (Hepatofish 2,5g/kg thức ăn); khoáng vi lượng (Vitatech F liều lượng 1 - 2g/kg thức ăn).

Chăm sóc

Nếu nuôi ao, thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là vào sáng sớm để xử lý kịp thời. Định kỳ (15 - 20 ngày) thay nước ao một lần.

Từ tháng thứ 2 trở đi, định kỳ 10 -15 ngày tiến hành khử trùng nước và khử khí độc ở đáy ao bằng BKC liều 0, 5 lít/1.000m3 nước hoặc Sanmolt F liều 0, 7 – 1 lít/1.000m3.

Trong điều kiện nuôi bè, thường xuyên theo dõi hoạt động ăn mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ để xử lý kịp thời.

Phòng bệnh cho cá bằng cách: Treo túi vôi ở đầu bè. 15 ngày khử trùng bè 1 lần bằng BKC (phun trực tiếp xuống bè).

Hiện, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang có thể cung cấp con giống và tư vấn kỹ thuật cho những hộ có nhu cầu. Mọi chi tiết xin liên hệ: Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang. Địa chỉ: Quốc lộ 91, phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên, An Giang. Điện thoại: 076.831657.

Trần Thế Tường

 


Phòng bệnh Niucatxơn (gà rù) trong vụ thu đông

Bệnh Niucatxơn là bệnh nguy hiểm ở gà thường xảy ra quanh năm nhất là lúc chuyển mùa nhiệt độ hạ thấp đây là thời điểm bệnh Niucatxơn hay bệnh gà rù thường dễ xuất hiện. Bệnh do virút gây ra và lây lan nhanh, mạnh, tỷ lệ gà mắc bệnh và chết cao ở mọi lứa tuổi gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Vì vậy người chăn nuôi cần nhận biết và phân biệt bệnh Niucatxơn như sau:

Nguyên nhân: Bệnh lây lan qua đường tiêu hóa và hô hấp, do tiếp xúc giữa gà ốm và gà khỏe, do phương tiện vận chuyển thức ăn, nước uống nhiễm mầm bệnh, do tiếp xúc với động vật, chim hoang dã mang mầm bệnh, bệnh gây viêm, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hoá, nhiễm trùng máu, thần kinh… nên thường gây tử vong ở gà rất cao.

 

Triệu chứng: Khi quan sát thấy gà bỏ ăn, đứng khoác áo tơi, chân lạnh, hắt hơi, khò khè, chảy nước mũi nhớt trắng - đỏ, khát nước uống nhiều nước, diều căng mềm toàn nước, diều chướng toàn hơi, chảy nước nhớt có dây ở miệng, gà thường vươn cổ kêu cho dễ thở, lúc đầu gà đi phân táo bón sau đó lại tiêu chảy phân có mầu trắng, xanh (phân cứt cò), có bọt hoặc máu. gà sốt cao mào tím tái gà thường chết rất nhanh, gà sống sót để lại di chứng thần kinh, nghẹo cổ, đi vòng quanh, mổ thức ăn không chính xác..

Phòng bệnh: Không có thuốc điều trị bệnh Niu cat xơn, do vậy lấy khâu phòng bệnh là chính, không nên nuôi chung gà các lứa tuổi. Bên cạnh đó người chăn nuôi phải luôn chú ý đến khâu vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại thì hiệu quả phòng bệnh mới cao.

- Phòng bệnh bằng vac xin

Dùng vác xin Laxota nhỏ mắt mũi lúc 3-7 ngày tuổi, 21 ngày tuổi.

Tiêm vac xin Niu cat xơn hệ I lúc 60 ngày tuổi và 135 ngày tuổi.

Hoặc sử dụng vac xin Niu cat xơn chịu nhiệt pha nước cho uống theo hướng dẫn của thú y.

Cần chú ý đến tác dụng và thời hạn của loại vac xin này khi đến thời điểm phải dùng ngay và hết thời hạn thì phải dùng tiếp để gà có thể miễn dịch bền vững.

Khi có dịch niucatxơn xảy ra:

Khi có bệnh xảy ra báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở, dùng vac xin, bổ sung thuốc bổ để tăng sức đề kháng cho những đàn gà chưa mắc bệnh như: Bcomple, chất điện giải, Vitamin C. Cách ly đàn gà ốm, không bán chạy gà ốm. Người nuôi gà ốm không tiếp xúc với đàn gà khác. rắc vôi bột và phun thuốc sát trùng chuồng nuôi, sân thả, dụng cụ và khu vực xung quanh.

Ngoài ra người chăn nuôi có thể kết hợp dùng bài thuốc đông y như: Hoàng liên: 16 gam, Huyền sâm: 12 gam, Bạch thược: 12 gam, Hồng hoa: 8gam sắc kỹ 2 nước rồi lọc bỏ bã lấy dịch lọc làm thuốc cho gà uống hoặc trộn vào thức ăn với liều trên dùng đủ cho 10 gà trưởng thành hoặc 20 gà hậu bị hoặc 40 gà con. Định kỳ 3 tháng 1 lần, để phòng bệnh cho gà để đạt hiệu quả cao.

Nguyễn Thị Nhàn - TTKN Yên Bái

Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng bê cái hướng sữa giai đoạn bú sữa

1. Chăm sóc và nuôi dưỡng trong thời gian bú sữa đầu (từ khi sinh đến 7 ngày tuổi)

Ngay sau khi bê được sinh ra, nếu dây rốn không tự đứt, người đỡ đẻ dùng tay trái cầm rốn bê, cách cuống rốn khoảng 10 cm, đồng thời dùng ngón trỏ và ngón cái tay phải vuốt mạnh rốn xuôi về cuống và cắt rốn ở khoảng cách 5 - 6 cm, sau đó sát trùng chỗ cắt bằng cồn iốt 5%.


Dùng tay móc nhớt bẩn trong miệng bê. Dùng khăn, bao tải, rơm khô mềm lau toàn bộ cơ thể. Cho bê ăn sữa đầu ngay, càng sớm càng tốt. Sữa đầu rất quan trọng vì giúp tẩy sạch đường tiêu hoá, chứa nhiều kháng thể và các chất dinh dưỡng khác, làm tăng sức đề kháng của bê, tạo thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển sau này.

Khi cho bê ăn sữa đầu cần lưu ý:
- Phải lau rửa sạch bầu vú bò mẹ trước khi vắt sữa đầu.
- Vắt ra cho bê ăn ngay, cho ăn bằng xô hay bình, xô và bình phải rất sạch sẽ.
- Sữa của bò mẹ nào thì cho chính bê đó ăn. Trường hợp bò mẹ bị viêm vú, mất sữa đột ngột hoặc chết, có thể lấy sữa đầu của bò mẹ khác thay thế.
- Lượng sữa đầu cho bê ăn khoảng 2 – 4 kg/ngày (bằng khoảng 1/10 trọng lượng cơ thể) và chia làm 3 – 5 lần.

Lúc đầu bê chưa quen ăn sữa trong xô, cần tập cho bê như sau: nhúng ngón trỏ vào xô sữa, cho bê mút ngón tay, đồng thời từ từ hạ tay xuống xô sữa và cứ làm như vậy cho đến khi bê quen ăn sữa trong xô.
Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau khi sinh, bôi thức ăn tinh hỗn hợp quanh môi, miệng bê để bê làm quen và tập ăn.
Giai đoạn đầu mới sinh, bê chưa quen với điều kiện bên ngoài môi trường và rất nhạy cảm với bệnh tật, do đó nên nuôi bê trong cũi riêng với kích thước dài 150 cm x rộng 100 cm x cao 120 cm. Cũi nuôi bê cần lót rơm khô, sạch, mềm. Đặt cũi nơi thoáng, khô ráo, tránh gió lùa và ẩm ướt. Thời gian nuôi bê trong cũi chỉ nên 3 tuần đầu sau khi sinh. Vào mùa đông thời gian nuôi trong cũi có thể kéo dài hơn.

2. Chăm sóc và nuôi dưỡng bê cái đến khi cai sữa

Sau khi ăn hết sữa đầu, chuyển bê sang chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng giai đoạn bú sữa thường. Giai đoạn này thường kéo dài 3 – 5 tháng.
Cần chú ý:
- Cho bê ăn mỗi ngày 5-6 kg sữa (tháng thứ 1 và tháng thứ 2), 4-5 kg sữa (tháng thứ 3) và giảm xuống 3-4 kg sữa (tháng thứ 4), chia làm 2 lần cách nhau 12 giờ, sữa vắt ra cho bê ăn ngay hoặc phải hâm nóng 38 – 400C, dụng cụ chứa sữa phải tuyệt đối sạch sẽ.
- Khi bê được một tuần tuổi, cho thức ăn tinh hỗn hợp vào máng ăn hoặc xô để bê ăn tự do (lúc đầu không quá 0,1kg/ngày sau đó tăng dần). Thức ăn tinh hỗn hợp phải thuộc loại chất lượng tốt, không ẩm mốc, có tỷ lệ đạm thô khoảng 18%.
- Khi bê được hai tháng, cho ăn cỏ chất lượng tốt.
- Mỗi buổi sáng, phải thu dọn thức ăn thừa bỏ đi và thay thế bằng thức ăn mới.
- Đảm bảo có nước uống sạch sẽ thường xuyên và mỗi ngày phải thay nước 2 lần.
- Trong tháng đầu nên cho bê vận động trên sân chơi mỗi ngày 2 - 5 giờ. Sau đó, hằng ngày chăn thả bê tự do trên bãi chăn.
- Thường xuyên tắm chải cho bê: mùa hè 2 lần/ngày, mùa đông mỗi ngày 1 lần lúc trưa nắng.
- Chuồng nuôi phải thông thoáng, sạch sẽ, ấm áp, có diện tích 2 – 2,5 m2. Thường xuyên dọn và thay ổ lót chuồng. Hằng tháng khử trùng bằng crezyl 3%, nước vôi 10% hoặc dung dịch formol 0,5%.
- Trước khi cai sữa cần tẩy giun sán cho bê.
Trong cả giai đoạn này cần sử dụng 300 – 500 kg sữa tươi, 100 kg cỏ khô và 100 kg thức ăn tinh. Để tiết kiệm sữa tươi hàng hoá, có thể dùng các loại sữa thay thế để nuôi bê

Theo tờ tin KNKNVN

Kỷ thuật nuôi gà Sao

Nuôi gà Sao: Một hướng xoá đói giảm nghèo Hiệu quả
Những năm gần đây, tại một số tỉnh Thanh Hoá, Tiền Giang... rộ lên phong trào nuôi gà Sao bởi giống gà nàycó chi phí tương đối thấp, nhẹ vốn nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần giúp bà con xoá nghèo và làm giàu.

Gà Sao bắt nguồn từ gà rừng, theo cách phân loại gà sao thuộc lớp Aves, bộ Gallformes, họ Phasiani, giống Numidiae, loài Helmeted.
Đặc điểm sinh học của gà Sao
1. Đặc điểm ngoại hình
Cả 3 dòng gà Sao đều có ngoại hình đồng nhất. Ở 1 ngày tuổi gà Sao có bộ lông màu cánh sẻ, có những đường kẻ sọc chạy dài từ đầu đến cuối thân. Mỏ và chân màu hồng, chân có 4 ngón và có 2 hàng vảy.
Giai đoạn trưởng thành gà Sao có bộ lông màu xám đen, trên phiến lông điểm nhiều những nốt chấm trắng tròn nhỏ. Thân hình thoi, lưng hơi gù, đuôi cúp. Đầu không có mào mà thay vào đó là mấu sừng, mấu sừng này tăng sinh qua các tuần tuổi, ở giai đoạn trưởng thành, mấu sừng cao khoảng 1,5-2cm. Mào tích của gà Sao màu trắng hồng và có 2 loại: một loại hình lá dẹt áp sát vào cổ, còn một loại hình lá hoa đá rủ xuống. Da mặt và cổ gà Sao không có lông, lớp da trần này có màu xanh da trời, dưới cổ có yếm thịt mỏng. Chân khô, đặc biệt con trống không có cựa.

2. Phân biệt trống mái
Việc phân biệt trống mái đối với gà Sao rất khó khăn. Ở 1 ngày tuổi phân biệt trống mái qua lỗ huyệt không chính xác như các giống gà bình thường. Đến giai đoạn trưởng thành con trống và con mái cũng hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, người ta cũng phân biệt được giới tính của gà Sao căn cứ vào sự khác nhau trong tiếng kêu của từng cá thể. Con mái kêu 2 tiếng còn con trống kêu 1 tiếng, nhưng khi hoảng loạn hay vì một lý do nào đó thì cả con trống và con mái đều kêu 1 tiếng nhưng không bao giờ con trống kêu được 2 tiếng như con mái. Ta có thể nghe thấy tiếng kêu của gà khi được 6 tuần tuổi. Ngoài ra sự phân biệt trống mái còn căn cứ mũ sừng, mào tích, nhưng để chính xác khi chọn giống người ta phân biệt qua lỗ huyệt khi gà đến giai đoạn trưởng thành.

3. Tập tính của gà Sao
Trong hoang dã gà Sao tìm kiếm thức ăn trên mặt đất, chủ yếu là côn trùng và những mẩu thực vật. Thông thường chúng di chuyển theo đàn khoảng 20 con. Về mùa đông, chúng sống từng đôi trống mái trong tổ trước khi nhập đàn vào những tháng ấm năm sau. Gà Sao mái có thể đẻ 20-30 trứng và làm ổ đẻ trên mặt đất, sau đó tự ấp trứng. Gà Sao mái nuôi con không giỏi và thường bỏ lạc đàn con khi dẫn con đi vào những đám cỏ cao. Vì vậy trong tự nhiên, gà Sao mẹ thường đánh mất 75% đàn ocn của nó.
Trong chăn nuôi tập trung, gà Sao vẫn còn giữ lại một số bản năng hoang dã. Chúng nhút nhát, dễ sợ hãi, hay cảnh giác và bay giỏi như chim, khi bay luôn phát ra tiếng kêu khác biệt. Chúng sống ồn ào và hiếm khi ngừng tiếng kêu.
Gà Sao có tính bầy đàn cao và rất nhạy cảm với những tiếng động như: mưa, gió, sấm, chớp, tiếng cành cây gãy, tiếng rơi vỡ của đồ vật. Đặc biệt gà Sao khi còn nhỏ rất sợ bóng tối, những lúc mất điện chúng thường chồng đống lên nhau đến khi có điện gà mới trở lại hoạt động bình thường. Vì vậy cần hết sức chú ý khi nuôi gà Sao để tránh stress có thể xảy ra.
Gà Sao thuộc loài ưa hoạt động, ban ngày hầu như chúng không ngủ, trừ giai đoạn gà con. Ban đêm, chúng ngủ thành từng bầy.

4. Hiện tượng mổ cắn
Do quá linh hoạt mà gà Sao rất ít mổ cắn nhau. Tuy nhiên chúng lại rất thích mổ những vật lạ. Những sợi dây tải, hay những chiếc que nhỏ trong chuồng, thậm chí cả nền chuồng, tường chuồng. Do vậy thường làm tổn thương đến niêm mạc miệng của chúng, vì vậy trong chuồng ta không nên để bất cứ vật gì ngoài máng ăn, máng uống, nền, tường chuồng phải làm chắc chắn.

5. Tập tính tắm, bay và kêu
Gà Sao bay giỏi như chim. Chúng biết bay từ sáng sớm, 2 tuần tuổi gà Sao đã có thể bay. Chúng có thể bay lên cao cách mặt đất từ 6-12m. Chúng bay rất khoẻ nhất là khi hoảng loạn.

Gà Sao cũng có nhu cầu tắm nắng, gà thường tập trung tắm nắng vào lúc 9-11h sáng và 3-4 giờ chiều. Khi tắm nắng gà thường bới một hố cát thật sâu rồi rúc mình xuống hố, cọ lông vào cát và nằm phơi dưới nắng.

6. Tập tính sinh dục
Các giống gà khác khi giao phối thường bắt đầu bằng hành vi ghẹ gà mái của con trống, đó chính là sự khoe mẽ. Ngoài ra, chúng còn thể hiện sức mạnh thông qua tiếng gáy dài nhưng ở gà Sao lại không như vậy, chúng không bộc lộ tập tính sinh dục rõ ràng ngay cả người chăn nuôi hàng ngày cũng khó phát hiện thấy. Gà Sao mái thì đẻ trứng tập trung, khi đẻ trứng xong không cục tác mà lặng lẽ đi ra khỏi ổ.
Kỷ thuật nuôi gà Sao mô hình hiệu quả
1. Đưa đàn gà mới nở về nuôi:
Nuôi đàn gà Sao bố mẹ từ 1 ngày tuổi đến khi 5% tổng đàn đẻ là giai đoạn quan trọng nhất để nâng cao khả năng sản xuất trứng sau này. Phải thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nuôi gà giống để đảm bảo cho đàn gà khoẻ mạnh và sinh trưởng đồng đều. Cần phải nuôi gà trống trong chuồng riêng biệt với chuồng gà mái.>>
Cần xác định trước số lượng gà sẽ úm để chuẩn bị đủ diện tích chuồng, đủ máng ăn, máng uống. Trong trường hợp sưởi nhân tạo thì phải làm vòng quây gà con có đường kính 3 - 4 m, cao 0,5 m. Nếu dùng chụp sưởi bằng tia bức xạ thì đường kính vòng quây phải rộng 5 - 6 m. Phải điều chỉnh thiết bị sưởi sao cho nhiệt độ ổ gà đạt 29 - 300C. Mùa đông có thể sưởi ấm chuồng 48 giờ, mùa hè 24 giờ trước khi đàn gà đến.Cần kiểm tra hệ thống van nước uống trong chuồng, có sử lý bằng clo. Trước khi đàn gà đến cần đổ nước uống có nhiệt độ 250C vào máng uống.Khi đặt gà vào chuồng cho gà uống nước và sau 1 - 2 giờ mới bắt đầu cho ăn, không được làm đàn gà xáo trộn, đè bẹp lẫn nhau, phải làm cho chúng quen với môi trường mới và phát hiện thấy máng ăn, uống. Trong 10 ngày đầu, cần đảm bảo mỗi khay máng ăn nhựa cho 100 con gà con. Trong vòng 1 - 2 giờ sau khi chuyển gà vào chuồng. Khi đàn gà được 8 - 10 tuần tuổi, cần lắp đặt cầu cho gà đậu ở trong chuồng. Mỗi cái cầu dài 1 m dành cho 15 con đậu.

Những quy định về sưởi ấm và thông hơi:
Ngày đầu sau khi đưa gà đến, cần đảm bảo nhiệt độ trong vòng quây gà úm là 380C, trong chuồng là 280C. Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi của gà. Số lượng gà con đặt dưới chụp sưởi truyền thống tối đa là 500 con, nếu dùng chụp sưởi tia bức xạ thì nhốt được 1.000 con. Cứ 4 ngày một lần giảm nhiệt độ thấp xuống 20C. Giai đoạn 14 - 21 ngày tuổi, gà con bắt đầu phân tán khắp chuồng, cho nên việc quan tâm điều chỉnh đều nhiệt độ điều chỉnh trong chuồng là rất cần thiết, có thể bỏ dần số chụp sưởi đi. Trong những ngày đầu, nếu không đủ nhiệt, gà con bị ỉa chảy, yếu, chậm lớn và dễ bị chết vì lạnh. Nếu đủ nhiệt, gà con nằm tản đều dưới vùng sưởi ấm. Nếu quá nóng, gà nằm xoài úp bụng trên nền chuồng, cố nghển cổ, thò đầu ra hoặc chúng cố tìm chỗ mát hơn như dọc tường để nằm. Gà kém ăn, chậm lớn, còi cọc, chết nhiều.

2. Cho gà uống nước và kỹ thuật xử lý nước uống:

* Chất lượng nước uống:
Phải đảm bảo thường xuyên có nước uống có chất lượng tốt cho gà Sao. Đặc biệt, trong nước uống phải an toàn về vi khuẩn Salmonella. 

* Cho gà uống nước:
Nước là chất dinh dưỡng quan trọng nhất, chúng ta phải đảm bảo đầy đủ cho chúng vì nước chiếm 70% khối lượng cơ thể. Nước uống hạn chế sẽ làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn và sinh trưởng của chúng. Nếu trời nóng, không đủ nước uống gà có thể bị chết. Cần khử trùng nước uống bằng clo hoặc iốt. Cần sử dụng đồng hồ đo nước uống hàng ngày của đàn gà để xác định khả năng tiêu thụ nước của chúng. Việc điều chỉnh độ cao của van nước uống là cực kỳ quan trọng. Trong 2 ngày đầu, máng nước để cao ngay tầm mắt của gà, đến ngày thứ 3 nâng van nước lên để gà ngẩng lên uống nước với góc 450. Đến ngày thứ 4 gà phải nghển cổ lên mới uống được. Đến ngày thứ 7 cần sử dụng van nước tự động và đặt ở tầm cao ngang lưng. Sau đó điều chỉnh van nước cao lên, đảm bảo gà hạn chế không làm bắn nước ra ngoài. Máng nước hở phải có mực nước cao tối đa 2 cm hàng ngày cần tháo nước rửa sạch.

3. Giảm streess trong nuôi dưỡng gà:
Nguyên tắc cơ bản của việc nuôi dưỡng gà mái Sao là chương trình chờ hạn chế, nhằm mục đích để đàn gà mái phát triển đều. Để kiểm tra chỉ tiêu này, cứ 2 tuần một lần phân ngẫu nhiên khoảng 100 con để cân mẫu. Tuỳ thuộc vào thể trọng của đàn gà để điều chỉnh khẩu phần ăn hàng tuần cho phù hợp.

4. Chương trình chiếu sáng:
Trong vòng 3 ngày đầu úm gà, việc bổ sung ánh sáng tự nhiên là cực kỳ quan trọng nhằm để cho gà con tìm thấy khay thức ăn, máng nước uống. Vì vậy phải bảo đảm ánh sáng có cường độ tối thiểu là 30 lux và chiếu sáng 24 giờ trong ngày. Từ ngày thứ 4 đến ngày 7 cần chiếu sáng 20 giờ/ngày và đến cuối tuần chỉ cần chiếu sáng 16 giờ/ngày. Đến cuối tuần thứ 2 thì chương trình chiếu sáng cho gà trống, mái bắt đầu khác nhau.

5. Chuẩn bị đàn gà giống sinh sản:
Đàn gà Sao được 25 tuần tuổi thì được chuyển sang các lồng chuồng đẻ trứng. Nếu áp dụng biện pháp nuôi dưỡng và chương trình chiếu sáng phù hợp thì gà sẽ đẻ trứng từ tuần tuổi thứ 28 và 50% tổng đàn sẽ đẻ vào lúc 31 - 32 tuần tuổi. Đàn gà đẻ ở mức tột đỉnh thường vào tuần tuổi thứ 35. Số gà đẻ nhốt trong một lồng chuồng phụ thuộc vào kích thước của lồng. Cần đảm bảo vị trí nuôi nhốt cho một con gà Sao ở ngăn lồng có mặt trước tối thiểu là 12,5 cm. Nhiệt độ trong chuồng phù hợp cho gà mái đẻ trứng và gà trống sản xuất tinh trùng là 200C.Trong giai đoạn sinh sản, nếu nhiệt độ trong chuồng là 120C, cần cho gà ăn thức ăn chứa 2.700 - 2.750 kcal và 17% prôtêin thô. Điều cực kỳ quan trọng là: Trước khi đẻ trứng không được cho gà mái ăn quá nhiều. Trước khi đẻ trứng, nếu gà béo quá, thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến năng suất trứng và sức sống của chúng. Sau khi gà đẻ trứng ở mức cao điểm, cần giảm khẩu phần ăn kiểm tra mức tăng trọng hàng tuần của gà, trong cùng một ngày và cùng một thời điểm, chọn ngẫu nhiên khoảng 100 con gà để cân cá thể và điều chỉnh khẩu phần ăn khi cần thiết. Khẩu phần ăn cần thiết phụ thuộc vào thể trọng, nhiệt độ chuồng nuôi

1. Cho gà uống nước và kỹ thuật sử lý nước uống

Chất lượng nước uống:



Phải đảm bảo thường xuyên có nước uống có chất lượng tốt cho gà Sao. Chỉ tiêu chất lượng nước uống được thể hiện trong bảng sau. Nếu bất kỳ chỉ tiêu nào vượt cao hơn mức cho phép đề có thể gây nên sự rối loạn tiêu hoá hoặc thay đổi khác. Đặc biệt, trong nước uống phải an toàn về vi khuẩn Salmonella.

Kết quả kiểm tra chất lượng nước phụ thuộc vào thời gian, vị trí và phương pháp lấy mẫu nước. Cần lấy mẫu kiểm tra lặp lại để tin tưởng thêm. 

Một số chỉ tiêu chất lượng nước uống

Đơn vịNước kémNước tốtNước nghi ngờNước nhiễm bẩn
Tổng số vi khuẩn 
con/lit0-1010-1001.000 -10.000100.000
Vi khuẩn E. coli 
con/lit0010-50100
Chất hữu cơmg/lit0134,6
Nitrátmg/lit00-1515-3030
Ammoniamg/lit00210
Độ đụcmg/lit
5 U
25 U
Sắtmg/lit
0,3
1,0
Manganmg/lit
0,1
0,5
Đồngmg/lit
1,0
1,5
Kẽmmg/lit
5
15
Kalciummg/lit
75
200
Ma-giêmg/lit
50
150
Sun-phátmg/lit
200
400
Kloridmg/lit
200
600
PHmg/lit
7,0-8,5
6,5-9,2

Cho gà uống nước
Nước là chất dinh dưỡng quan trọng nhất, chúng ta phải đảm bảo đầy đủ cho chúng vì nước chiếm 70% khối lượng cơ thể. Nước uống hạn chế sẽ làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn và sinh trưởng của chúng. Nếu trời nóng, không đủ nước uống gà con có thể bị chết. Cần khử trùng nước uống bằng clor hoặc iod. Cần sử dụng đồng hồ đo nước uống hàng ngày của đàn gà để xác định khả năng tiêu thụ nước của chúng. Việc điều chỉnh độ cao của van nước uống là cực kỳ quan trọng. Trong 2 ngày đầu, máng nước để cao ngay tầm mắt của gà, đến ngày thứ 3 nâng van nước lên để gà ngẩng lên uống nước với góc 450. Đến ngày thứ 4, gà phải nghển cổ lên mới uống được. Đến ngày thứ 7 cần sử dụng van nước tự động và đặt ở tầm cao ngang lưng. Sau đó điều chỉnh van nước cao hơn lên, đảm bảo gà hạn chế không làm bắn toé nước ra ngoài. Máng nước hở phải có mực nước cao tối đa 2 cm, hàng ngày cần tháo nước rửa sạch.

2. Giảm stress trong nuôi dưỡng gà

Gà Sao dễ bị hoảng sợ, cho nên cần chăm sóc chúng rất cẩn thận để tránh tất cả các stress có thể gây nên tử vong trong đàn gà. Thông thường nên dùng lưới ngăn chặn các góc tường chuồng, để khi gà hoảng sợ không có chỗ để xô đẩy dồn vào góc đó. 

3. Những quy định về sưởi ấm và thông hơi:
Ngày đầu sau khi đưa gà đến, cần đảm bảo nhiệt độ trong vòng quây gà úm là 380C, trong chuồng là 280C. Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi của gà (Bảng sau).
Số lượng gà con đặt dưới chụp sưởi truyền thống tối đa là 500 con, nếu dùng chụp sưởi tia bức xạ thì nhốt được 1.000 con. Cứ 4 ngày một lần giảm nhiệt độ thấp xuống 20C. Giai đoạn 14-21 ngày tuổi, gà con bắt đầu phân tán khắp chuồng, cho nên việc quan tâm điều chỉnh đều nhiệt độ trong chuồng là rất cần thiết, có thể bỏ vợi dần số chụp sưởi đi. Trong những ngày đầu, nếu không đủ nhiệt, gà con bị ỉa chảy, yếu, chậm lớn và dễ bị chết vì lạnh. Nếu đủ nhiệt, gà con nằm tản đều dưới vùng sưởi ấm; nhưng nếu thiếu nhiệt, gà sẽ dồn vào một chỗ, chui vào dưới góc tường hoặc máng ăn cho ấm. Trong trường hợp bị lạnh kéo dái, đường ruột chứa đầy nước và khí, phân ướt và quanh hậu môn dính phân nhão. Nếu quá nóng, gà nằm xoài úp bụng trên nền chuồng, cố nghển cổ, thò đầu hoặc chúng cố tìm chỗ mát hơn như dọc tường để nằm. Gà kém ăn, chậm lớn, còi cọc, chết nhiều. 

Nhu cầu nhiệt độ thay đổi theo lứa tuổi gà rất quan trọng 

Lứa tuổi(Ngày)
Chụp sưởi nhân tạoHệ thống sưởi chung
Trong vòng quây (°C)Trong chuồng (°C)Trong chuồng (°C)
0-338> 2831-33
3-7352831-32
7-14322829-31
14-21292828-29
21-28
22-2822-28
28-35
20-2321-22
35-42
18-2318-21
42-49
17-21

Độ ẩm trong chuồng ảnh hưởng rất lớn đến sự điều chỉnh nhiệt của gà con.Độ ẩm tương đối là 50-60% là phù hợp với gà con. Không bao giờ cho phép ẩm độ trên 80%. Để đảm bảo giảm ẩm độ trong chuồng, cần sử dụng hệ thống thông hơi là rất cần thiết, nhưng không được để tạo thành luồng gió lùa mạnh trong chuồng gà.

Các chỉ tiêu kỹ thuật: Trọng lượng bình quân xuất bán 1,605kg/con, tiêu tốn thức ăn 2,85kg/kg tăng trọng. Việc nuôi gà Sao thương phẩm đã khẳng định, nuôi gà lấy thịt cho giá trị kinh tế cao hơn hẳn các giống gà Lương Phượng, lai ri, gà công nghiệp..., chất lượng thịt gà chắc nạc thơm ngon, khả năng miễn dịch tốt.

Sau các đợt dịch cúm gia cầm hoành hành, anh Trần Văn Lực ở huyện Chợ Gạo, Tiền Giang chuyển sang các mô hình chăn nuôi mới, đó là nuôi gà sao. Đây là giống gà có nhiều triển vọng, hình dáng đẹp, có thể nuôi làm cảnh, chất lượng thịt ngon đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Đặc biệt giống gà này có sức đề kháng rất tốt, ít khi bị bệnh. Đến nay anh đã có trang trại với gần 3.000 con gà sao.


“Vua” gà sao Tiền Giang


Ban đầu chỉ nuôi làm cảnh, qua thời gian nuôi thấy gà sao dễ nuôi, chất lượng thịt thơm ngon, bán được giá cao nên anh Trần Văn Lực ở huyện Chợ Gạo, Tiền Giang đầu tư nuôi gà sao quy mô công nghiệp. Đặc biệt, gà sao có sức đề kháng tốt, ít bị dịch bệnh, nhất là các loại bệnh truyền nhiễm do virus. Hiện trang trại anh Lực có 3.000 con gà sao, giá gà giống 40.000 đồng/con nhưng không đủ cung cấp. Gà thịt thương phẩm hiện giá cao, từ 100.000 - 120.000 đồng/kg, gà hậu bị giống 90 ngày tuổi giá 200.000 đồng/con. Hiện anh Lực phát triển gần 20 vệ tinh nuôi trên 5.000 gà thịt và hậu bị nhưng vẫn không đủ cung ứng. Thịt gà sao trở thành món ăn độc đáo trong các thực đơn ở nhà hàng, quán ăn lớn. Thị trường tiêu thụ chủ yếu là TP.HCM, Vũng Tàu, Lâm Đồng, Cần Thơ, An Giang… Ngoài ra, người mua gà sao để nuôi làm cảnh trong vườn, trang trại hay khu du lịch cũng tăng cao.


Anh Lực cho biết, loại gà sao hay còn gọi là trĩ sao thích sống theo bầy đàn, thích bay khi di chuyển, kêu to, hình dáng đẹp nên rất nhiều người đặt mua làm cảnh. Gà sao trưởng thành nặng 2,2 - 2,5 kg/con, đẻ theo mùa và đẻ sai. Gà chịu được nhiệt độ cao, phù hợp nhất với các tỉnh từ nam Trung bộ trở vào, nhất là ĐBSCL và đông Nam bộ.


Kinh nghiệm nuôi gà sao


Theo anh Lực, nuôi gà sao cần hiểu rõ đặc tính hoang dã của chúng. Nhược điểm là nhút nhát, kêu và bay nhảy suốt ngày. Khắc phục bằng cách nuôi mật độ thưa, nuôi bán chăn thả, có lưới bao quanh để tránh gà bay ra ngoài. Chuồng trại ở nơi cao ráo, thoáng mát, có thể tận dụng chuồng nuôi heo, bò, gà, vịt khác… Nuôi quản lý theo hướng công nghiệp hoặc bán công nghiệp, mật độ nuôi gà thịt 5 - 7 con/m2, gà đẻ 2 - 3 con/m2, phải có sân cát hoặc vườn để vận động và tắm nắng. Gà sao tự đẻ theo mùa (đầu và đến cuối mùa mưa) và ấp trứng nhưng hiệu quả không cao do gà sao không biết chăm sóc con như gà ta. Nên sử dụng tủ ấp, sau 26 - 28 ngày gà nở, sau đó cho vào lồng úm nhiệt 35 - 370C, giảm dần giờ úm khi gà lớn.


Gà sao rất dễ nuôi, chịu được những điều kiện nuôi thất thường, có thể sử dụng thức ăn công nghiệp, bổ sung phụ phẩm nông nghiệp như bắp, lúa, tấm, cám… Đặc biệt gà sao thích ăn rau xanh như lục bình, rau muống, cỏ… Tỷ lệ tiêu tốn thức ăn là 2,8 kg/kg thịt. Cho gà uống nước sạch hoặc qua lắng lọc, có thể pha thêm chất điện giải, vitamin C, A, D, E, B comlex... để tăng sức đề kháng, chống stress cho gà khi thời tiết thay đổi hay chuyển chuồng. Qua nhiều năm nuôi, anh Lực chưa thấy gà sao nhiễm các loại bệnh do virus, trong đó có dịch cúm gia cầm. Tuy nhiên, người nuôi không được chủ quan mà vẫn phải vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng, tuân thủ các quy định chăn nuôi của thú y. Anh Lực lưu ý, gà sao thường mắc một số bệnh về đường ruột như Salmonella (thương hàn), E.coli, ấu trùng… Trong quá trình nuôi, anh Lực sử dụng các loại kháng sinh thông thường để phòng trị bệnh cho gà trong trường hợp thật sự cần thiết, đồng thời tuân thủ hướng dẫn, liều lượng.

 


Kỹ thuật nuôi trùn quế

Tuy nhìn bề ngoài thì rất nhỏ và mỏng manh, nhưng thực ra trùn quế là "nguồn máy" tiêu thụ thức ăn. Mỗi ngày trùn tiêu thụ một lượng thức ăn tương đương với trọng lượng cơ thể chúng, nên chúng ta phải chắc rằng đủ lượng thức ăn cần thiết để nuôi trùn.


Thức ăn trùn gồm: Phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm, rạ ... trong đó phân bò tươi và phân trâu tươi là món khoái khẩu nhất của trùn, còn lại phân gà, phân heo, phân vịt cần phải ủ cho hoai trước khi cho trùn ăn.
 

Nếu chúng ta nghĩ nuôi trùn dùng để cải tạo khẩu phần ăn cho đàn gia súc, gia cầm thì quá dễ. Chỉ cần mua vài kg trùn giống ở các trại chăn nuôi sau đó bỏ vào chậu hoặc có thể bỏ vào bao cám để nuôi...Nhưng nếu nuôi theo mô hình quy mô, thì chúng ta cần đến các cơ sở chăn nuôi hoặc xem kỹ phần Kỹ thuật nuôi trùn quế phía dưới. Bà con lưu ý: Đừng ngần ngại liên hệ hoặc hỏi chúng tôi, những điều thắc mắc sẽ được giải đáp một cách mau chóng trong phạm vi khả năng.
 

3. Giống:

 

Kỹ Thuật nuôi trùn quế:

I. Chuồng trại:

II. Nuôi & Chăm sóc:

1. Chất nền:

2. Nhiệt độ:

3. Độ ẩm:

4. Ánh Nắng:

5. Không khí:

6. Cho ăn:

7. Nhân luống:

8. Thu hoạch:

Có nhiều phương pháp thu hoạch nhưng nhử mồi là phương pháp hữu hiệu nhất. Sau khi cho trùn ăn được 3 ngày, dùng tay hốt trên bề mặt luống, nơi chúng ta đã bỏ phân bò (vì chúng sẽ tập trung vào đây để ăn). Trải tấm nilon ngoài sân trống có ánh nắng càng tốt. Đổ phần hỗn hợp này lên tấm nilon, sau đó gạt bỏ phần phân trùn bên trên lần lượt vì khi trùn ra ngoài sợ ánh nắng nên trốn xuống phía dưới cho đến khi chỉ còn trùn. Chú ý rằng lớp phân trùn bên trên này không được bỏ làm phân mà cho trở lại luống để tiếp tục nuôi như là sinh khối, và trùn sẽ được nhân luống rất mau vì trong sinh khối này chứa rất nhiều kén  trùn. Đối với bà con nuôi trùn vào mục đích cải tạo đạm cho vật nuôi ở nhà, bà con nên áp dụng hình thức thu hoạch “cuống chiếu” .Lấy phần phân còn lại ta có được phân trùn.

Trong trường hợp luống đã đầy phân mà chúng ta không có chuồng mới (chuồng trống) để nhân giống hoặc vì trời mưa nhiều quá chúng ta không thể tách được trùn và phơi phân chúng ta có thể làm như sau: Xúc toàn bộ sinh khối trong chuồng đổ cao lên qua một bên chuồng, sau đó dùng phên tre (là loại bồ được đan bằng tre) để chắn giữ lại, dùng cọc tre để giữ phên. Bỏ thức ăn mới vào phần bên chuồng trống, trùn sẽ nghe được mùi thức ăn mới và sẽ chui qua phần bên này để sống. Khi có điều kiện thích hợp ta sẽ bắt trùn hoặc trời nắng sẽ phơi phan trun dễ dàng hơn.  

Đối với luống mới, sau 2 tháng chúng ta mới có thể thu hoạch được, nhưng đợt thu hoạch thứ 2 trở đi sẽ rút ngắn còn 25 – 35 ngày, điều này phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật nuôi của bà con. Nếu mật độ giống thả đạt yêu cầu, cộng với việc chăm sóc tốt, chúng ta sẽ thu 0,8kg - 1kg/1m2/lần thu hoạch.

Ưu điểm: Khác với tất cả các loại vật nuôi khác như: Gà, heo, ếch, cá… Trùn quế không cần tái đầu tư con giống nhưng hàng tháng chúng ta vẫn có thể thu hoạch đươc.

9. Cách thả giống:

a. Giống thuần (Bố mẹ): Sau khi làm chuồng trại xong, dùng nước tưới trên bề mặt luống mổi ngày 1 lần, sau 3 ngày chúng ta có thể trải 1 lớp chất nền khoảng 08cm và thả giống. Thông thường mổi m2 ta thả khoảng 2 – 3 kg trùn giống, dùng tay hốt trùn giống và bỏ từng cụm vào luống, sau 1 giờ tự động trùn sẽ lẫn vào trong chất nền để trốn, sau đó ta dùng nước tưới phun sương trên bề mặt luống và có thể cho trùn ăn ngay.

b. Sinh khối (ổ trùn): Sau 3 ngày chúng ta lấy phân trâu, bò.. bỏ 1 lớp khoảng 10cm trên bề mặt luống, tưới qua 1 ít nước và thả sinh khối. Khi thả sinh khối chúng ta cứ để thành cụm, không nên trãi mõng ra, sau 2 giờ thì tưới nước. Thông thường cách thả giống bằng sinh khối là hiệu quả nhất.

c. Cách chọn giống:

* Giống Thuần: Chúng ta không nên chọn giống bị trộn lẫn với những giống trùn đất khác, nếu chúng ta dùng trùn thương phẩm 100% để làm giống thì hoàn toàn không đúng, vì trong quá trình làm sạch trùn chúng ta sẽ làm trùn hoàn toàn tổn thương. Cách tốt nhất nên bắt giống khoảng 80%. Khâu bảo quản giống rất quan trọng vì thế chúng ta nên đến những trại có nhiều năm kinh nghiệm trong viêc bảo quản giống để có được con giống khoẻ.

* Sinh Khối: Ngày nay việc mua, bán con giống được diễn ra mang tính tự phát, người mua giống và cả người bán giống đều không nắm rỏ thế nào là sinh khối nên giá cả cũng rất khác biệt

10

1. Bệnh no hơi: Do trùn ăn nhằm những loại thức ăn quá giàu "chất đạm" như phân bò sữa, heo... làm cho phân có mùi chua. Sau khi cho ăn, trùn có hiện tượng nổi lên trên mặt luống và trường dài sau đó chuyển sang màu tím bầm và chết. Cách tốt nhất khi phát hiện trường hợp này nên hốt hết phần phân lỡ cho ăn ra và tưới nước lên luống.

2. Bệnh trúng khí độc: Do đáy chất nền đã bị thối rữa, trong thời gian dài chất nền thiếu O2 làm cho khí CO2 chiếm lĩnh hết khe hỡ của chất nền, làm trùn chui lên trên lớp mặt. Cách khắc phục: Dùng cuốc chĩa xới toàn bộ mặt luống và tưới nước.

3. Ngoài ra thật chú trọng với các loại thuốc trừ sâu, xà bông, nước rữa chén... vì trùn sẽ lập tức chết khi tiếp súc.

4. Địch hại: Kiến, chim, cóc, nhái... là những địch hại nguy hiểm nhất của trùn quế. Đối với kiến hãy diệt tận gốc, dùng vật nhọn moi tận gốc của ổ kiến, xịch thuốc và vệ sinh thật sạch khu vực xung quanh trại.

 

Tuy nhiên trên thực tế việc nuôi trùn tùy thuộc vào môi trường rất nhiều: thời tiết, độ ẩm và khu vực nuôi mà chúng ta làm trại cho thích hợp. Chúng tôi sẳn sàng hướng dẫn kỹ thuật để việc nuôi trùn của bà con đạt được hiệu quả cao nhất.

Theo Trunque

Kỹ thuật nuôi Trùn quế

Bài từ Tủ sách Khoa học VLOS.

Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoan. Chúng thuộc nhóm trùn ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp như một số loài trùn địa phương sống trong đất.

Trùn quế là một trong những giống trùn đã được thuần háo, nhập nội và đưa vào nuôi công nghiệp với các quy mô vừa và nhỏ. Đây là loài trùn mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng được sử dụng rộng rãi trong việc chuyển hóa chất thảm ở Philippines, Australia và một số nước khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995).

Kích thước Trùn quế trưởng thành từ 10 – 15 cm, nước chiếm khoảng 80 – 85%, chất khô khoảng 15 – 20%. Hàm lượng các chất (tính trên trọng lượng chất khô) như sau: Protein: 68 –70%, Lipid: 7 – 8%, chất đường: 12 –14 %, tro 11 – 12%.

Do có hàm lượng Protein cao nên Trùn quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản… Ngoài ra, Trùn quế còn được trong y học, công nghệ chế biến thức ăn gia súc…

Phân trùn là loại phân hữu cơ sinh học có hàm lượng dinh dưỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không gây ra tình trạng “sốc” phân, yêu cầu trữ dễ dàng, đặc biệt thích hợp cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vườn ươm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch.

Đặc tính sinh học

Trùn quế có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10 –15 cm, thân hơi dẹt, bề ngang của con trưởng thành có thể đạt 0,1 – 0,2 cm, có màu từ đỏ đến màu mận chín (tùy theo tuổi), màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn. Cơ thể trùn có hình thon dài nối với nhau bởi nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ. Khi di chuyển, các đốt co duỗi kết hợp các lông tơ phía bên dưới các đốt bám vào cơ chất đẩy cơ thể di chuyển một cách dễ dàng.

Trùn quế hô hấp qua da, chúng có khả năng hấp thu Oxy và thải CO2 trong môi trường nước, điều này giúp cho chúng có khả năng sống trong nước nhiều lần, thậm chí trong nhiều tháng.

Hệ thống bài tiết bao gồm một cặp thận ở mỗi đốt. các cơ quan này bảo đảm cho việc bài tiết các chất thải chứa đạm dưới dạng Amoniac và Urer. Trùn quế nuốt thức ăn bằng môi ở lỗ miệng, lượng thức ăn mỗi ngày được nhiều nhà khoa học ghi nhận là tương đương với trọng lượng cơ thể của nó. Sau khi qua hệ thống tiêu hóa với nhiều vi sinh vật cộng sinh, chúng thải ra phân (Vermicas) ra ngoài rất giàu dinh dưỡng (hệ số chuyển hóa ở đây vào khoảng 0.7), những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể trùn nhưng vẫn còn hoạt động ở “màng dinh dưỡng” trong một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân trùn có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.

Đặc tính sinh lý

Trùn quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ và biên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn. Nhiệt độ thích hợp nhất với Trùn quế nằm trong khoảng từ 20 – 30oC, ở nhiệt độ khoảng 30oC và độ ẩm thích hợp, chúng sinh trưởng và sinh sản rất nhanh. Ở nhiệt độ quá thtấp, chúng sẽ ngừng hoạt động và có thể chết; hoặc khi nhiệt độ của luống nuôi lên quá cao cũng bỏ đi hoặc chết. Chúng có thể chết khi điều kiện khô và nhiều ánh sáng nhưng chúng lại có thể tồn tại trong môi trường nước có thổi Oxy.

Trùn quế quế rất thích sống trong môi trường ẩm ướt và có độ pH ổn định. Qua các thí nghiệm thực hiện, chúng tôi nhận thấy chúng thích hợp nhất vào khaỏng 7.0 – 7.5, nhưng chúng có khả năng chịu đựng được phổ pH khá rộng, từ 4 – 9, nếu pH quá thấp, chúng sẽ bỏ đi.

Trùn quế thích nghi với phổ thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, gia cầm…). Tuy nhiên, những thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao se hấp dẫn chúng hơn, giúp cho chúng sinh trưởng và sinh sản tốt hơn.

Trong tự nhiên, Trùn quế thích sống nơi ẩm thấp, gần cống rãnh, hoặc nơi có nhiều chất hữu cơ dễ phân hủy và thốI rữa như trong các đống phân động vật, các đống rác hoai mục. chúng rất ít hiện diện trên các đồng ruộng canh tác dù nơi đây có nhiều chất thải hữu cơ, có lẽ vì tỷ lệ C/N của những chất thải này thường cao, không hấp dẫn và không đảm bảo đềiu kiệm ẩm độ thường xuyên.

Sự sinh sản và phát triển

Trùn quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổn định và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam. Theo nhiều tài liệu, từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000 –1.500 cá thể trong một năm.

Trùn quế là sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ở phía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗi con, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20 trứng, kén Trùn di chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất. Kén áo hình dạng thon dài, hai đẩu túm nhọn lại gần giống như hạt bông cỏ, ban đầu có màu trắng đục, sau chuyển sanh xanh nhạt rồi vàng nhạt. Mỗi kén có thể nở từ 2 – 10 con.

Khi mới nở, con nhỏ như đầu kim có màu trắng, dài khoảng 2 – 3mm, sau 5 – 7 ngày cơ thể chúng sẽ chuyển dần sang màu đỏ và bắt đầu xuất hiện một vằn đỏ thẫm trên lưng. Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuất hiện đai sinh dục (theo Arellano, 1997); từ lúc này chúng bắt đầu có khả năng bắt cặp và sinh sản. Con trưởng thành khỏe mạnh có màu mận chín và có sắc ánh kim trên cơ thể.

Các mô hình nuôi Trùn quế

Hiện nay, tên thế giới có nhiều mô hình nuôi Trùn quế: từ đơn giản như nuôi trong khay, chậu trên một diện tích nhỏ, đến nuôi trên đồng ruộng (có hoặc không có mái che), hay nuôi trong những nhà nuôi kiên cố… nhưng nhìn chung, các mô hình này đều phải đảm bảo được những yêu cầu kỹ thuật phù hợp với đặc điểm sinh lý của con Trùn. Ở đây, chúng tôi xin đề xuất một mô hình nuôi thích hợp với quy mô nhỏ trong từng hộ gia đình, quy mô bán công nghiệp và giới thiệu một số nét về quy mô nuôi công nghiệp hiện đại.

Nuôi trong khay chậu

Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối đa các diện tích trống có thể sử dụng được, mô hình này có thể sử dụng các dụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô… Các thùng gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m2 với chiều cao khoảng 0,3m). Các dụng cụ này nên được đặt trên những cái khung nhiều tầng để dễ chăm sóc và tận dụng được không gian.

Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt nơi có ánh sáng hạn chế càng tốt. Chúng phải được lỗ thoát nước, những lỗ này cần được chặn lại bằng bông gòn, lưới… để không bị thất thoát nước con giống. Do tính ưu tối nên trên mặt của dụng cụ cần được kiểm tra thường xuyên.

Mô hình nuôi này có ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong gia đình hoặc tận dụng thời gian rãnh rỗi. Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễ quan sát và gọn nhẹ. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơn các mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc cho Trùn phải được chú ý cẩn thận hơn.

Nuôi trên đồng ruộng có mái che

Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp cho những vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải.

Các luống nuôi có thể đạt độ ẩm trong đất hoặc làm bằng các vật liệu nhẹ như bạt không thấm nước, gỗ…, có bề ngang từ 1 – 2m, độ sâu (hoặc cao) khoảng 30 – 40 cm, bảo đảm thoát nước được nước và thông thoáng. Mái che nên làm ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau. Độ dày chất nền ban đầu và thức ăn nên được bổ sung hàng tuần. Luống nuôi cần được che phủ để giữ ẩm, kích thích hoạt động của Trùn và chóng các thiên địch.

Nuôi trên đồng ruộng không có mái che

Đây là phương pháp nuôi truyền thống ở các nước đã phát triển công nghệ nuôi Trùn như Mỹ, Úc.. và có thể thực hiện ở quy mô lớn. Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi. Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sử dụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Nếu cho lượng thức ăn ban đầu ít và bổ sung hàng tuần thì việc thu hoạch cũng khá dễ dàng. Tuy nhiên, phương pháp nuôi này bị tác động mạnh bởi các yếu tố thời tiết, có thể gây tổn hại đến Trùn và cần một diện tích tương đối lớn,

Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp

Là dạng Cải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trong thau chậu. Các khung (bồn) nuôi có thể được xây dựng kiên cố trên mặt đất có kích thước rộng hơn hoặc được sắp thành nhiều tầng. Việc chăm sóc có thể thực hiện bằng tay hoặc các hệ thống tự động tùy theo quy mô. Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi. Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng chi phí xây dựng cơ bản và trang thiết bị cao. Hiện nay, quy mô nuôi công nghiệp vớI những trang thiết bị hiện đại được áp dụng khá phổ biến ở các nước phát triển như Mỹ, Úc, Canada.

Yêu cầu kỹ thuật của việc nuôi trùn

Để nuôi trùn quế đạt hiệu quả, cần chú ý một số vấn đề sau:

Về người nuôi

Nắm bắt được một số đặc tính sinh lý, sinh thái cơ bản của con Trùn.

Có kiến thức tối thiểu về các loại chất thải hữu cơ dùng làm thức ăn cho Trùn.

Về luống trại nuôi

Luống hoặc trại nuôi phải đặt nơi thoáng mát, không bị ngập úng và không nên bị ánh sáng chiếu trực tiếp, có nguồn nước tưới thường xuyên, trung tính và sạch; cần thoát nhiệt, thoát nước tốt. Bảo đảm các điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm. Nên có biện pháp ngăn ngừa các thiên địch (kiến, cóc, nhái..)

Về chất nền

Chất nền có cơ cấu xốp, kết cấu tương đối thô, có khả năng giữ ẩm tốt, không gây phản ứng nhiệt, pH không nằm, ngoài phổ chịu đựng của Trùn, có thể là môi trường sống tạm của Trùn khi gặp điều kiện bất lợi.

Về thức ăn

Thức ăn là chất thải hữu cơ ở dạng đang phân hủy, không nên có hàm lượng muối và amoniac quá cao, chủng loại tương đối đa dạng nhưng thích hợp nhất là những chất liệu có tỷ lệ C/N vào khoảng 10:1 như phân gia súc, các chất liệu phân hủy thô của ruồi lính đen hấp dẫn Trùn hơn là các loại phân khô hoặc đã qua giai đoạn ủ.

Khi cho ăn, có thể bố trí thức ăn thành những luống nhỏ xen kẽ nhau hoặc đổ thành từng cụm. Lượng thức ăn tùy thuộc vào mật số Trùn hiện có, để có nguồn phân chuyển hóa tương đối hoàn toàn nên chú ý đến thời gian bổ sung thức ăn.

Về độ ẩm

Nên chú ý tưới giữ ẩm ngay từ khi mới thả giống vì Trùn đã bị sốc khi di chuyển, hàng ngày kiểm tra độ ẩm và tưới bổ sung, tốt nhất là tưới nhiều lần trong ngày khi trời nóng, lượng nước cho mỗi lần tưới ít. Nếu sử dụng chất nền có kết cấu hạt xốp và to thì độ ẩm có thể duy trì ở mức cao và ngược lại.

Trong điều kiện khô nóng cũng nên duy trì ẩm độ cao. Nước tưới nên có pH trung tính, không nhiễm mặn hoặc phèn.

Thu hoạch

Tùy theo mục đích mà có những phương pháp thu hoạch khác nhau. Ở đây, chúng tôi tạm đề nghị 02 phương pháp thu hoạch sau:

Phương pháp thu hoạch tươi bằng cách dẫn dụ: Nhằm thu được nguồn giống mà không làm cho chúng bị sốc và thu phân Trùn. Trước khi thu hoạch khoảng một tuần, cho một tấn lưới vào khoảng giống mới đã dọn ở giữa luống (hoặc trên bề mặt luống) có chứa thức ăn mới đã được bổ sung nước ở mức bão hòa, không tưới trên phần phân chũ ở hai bên. Thức ăn tươi và ẩm độ sẽ hấp dẫn Trùn và chúng sẽ tập trung cao độ ở đây. Để thu được trên 90% con giống, nên thực hiện động tác này 2 lần.

Phương pháp thu hoạch khô: thu hoạch Trùn thịt làm thức ăn gia súc và thu tưới giữ ẩm, nên xới xáo nhiều lần giúp bốc thoát hơi nước. Khi nhận thấy hạt phân tương đối rờI rạc, dùng cào gom phân vào giữa, con trùn có khuynh hướng chui xuống, cuộn tròn dưới lớp đáy của luống. Hốt lớp phân bên trên và tiếp tục gom phân lại. Thực hiện thao tác này sẽ tách riêng được phân và trùn.

 

Trùn quế trưởng thành có kích thước khoảng 10cm, khả năng sinh sản rất nhanh, số lượng được tăng lên theo cấp số nhân. Cứ 1 kg trùn giống sau 2 tháng nuôi có thể thu hoạch được từ 15-20 kg trùn thương phẩm.

Nghề nuôi trùn quế đang thu hút nhiều nông dân vì lợi nhuận cao, chi phí đầu tư thấp. Để đảm bảo quá trình nuôi thành công, bà con cần chú ý một số vấn đề sau:

Trùn quế thích sống chui rúc ở nơi ẩm ướt có nhiều chất hữu cơ, ấm áp nhiệt độ thích hợp 20 - 30 độ C, không gian yên tĩnh, tránh ánh sáng, môi trường không bị ô nhiễm..., ẩm độ 60 - 70%, pH trung tính, nước ngọt, tránh đất nhiễm mặn và phèn.

Tạo luống hay chuồng nuôi:

Có thể tận dụng các phương tiện sẵn có để nuôi trùn như chuồng heo, bể nước cũ, các loại thùng, chậu... đều có thể nuôi trùn. Nhưng để thuận lợi chăm sóc và thu hoạch thì nuôi trùn trên luống là thích hợp hơn. Chọn một khu đất gần nguồn nước sạch, đào rãnh tạo luống cao 30-40 cm, rộng 1,5 - 2m, tạo độ dốc từ giữa mặt luống sang hai bên và có các rãnh nhỏ thoát nước, đất cần tơi xốp, mặt luống cần phủ một lớp rơm rạ mục 3-5 cm để giảm ánh sáng, luôn giữ ẩm và phòng chống ếch nhái, côn trùng...

Nguồn trùn giống có thể mua hoặc bắt ngoài thiên nhiên ở những nơi ẩm thấp. Tiêu chuẩn trùn giống phải khỏe mạnh, nhanh nhẹn, thân đỏ màu mận chín, có ánh kim, mình hơi dẹt. Cào nhẹ lớp rơm rạ phủ sang một bên, thả đều trùn giống vào giữa luống và phủ lại rơm, sau ít phút trùn sẽ chui xuống đáy và phân tán đều. Nên thả trùn vào sáng sớm, để trùn ăn khỏe và mau ổn định. Mật độ thả khoảng 7-8 ngàn con/m2.

Chăm sóc, cho ăn:

Sau khi thả giống được 2 ngày thì cho trùn ăn. Mỗi ngày trùn quế tiêu thụ một lượng thức ăn tương đương với trọng lượng cơ thể chúng, nên phải đảm bảo đủ lượng thức ăn cần thiết cho trùn. Thức ăn gồm: phân bò, trâu, dê, heo, gà, vịt, rơm, rạ... (phân gà, phân heo, phân vịt phải hoai mục). Rải đều các loại phân heo, trâu bò trên mặt luống, độ dày khoảng 5-6 cm. Sau đó, tiếp tục cho trùn ăn khi thấy trên bề mặt luống đã xốp và không còn thức ăn cũ. Chú ý không nên cho trùn ăn khi lượng thức ăn cũ còn quá nhiều, vì lượng thức ăn bị tồn đọng làm cho trùn chỉ lo tập trung ăn và sống phía dưới luống mà không sống trên bề mặt. Điều này khiến cho trùn giảm khả năng sinh sản.

Độ ẩm đất:

Phải luôn duy trì độ ẩm cho đất và lớp rơm rạ che phủ. Nước là thành phần quan trọng nhất, chiếm khoảng 65 - 80% trọng lượng cơ thể trùn nên phải thường xuyên tưới nước cho trùn, tưới một ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều tối. Đầu thùng hay vòi tưới cần gắn bông sen để nước không xối quá mạnh. Trời mưa lớn cần có phương tiện che luống trùn lại và cho thoát nước ngay.

Nhân đàn:

Số lượng trùn sẽ tăng gấp 2 sau 2 tháng, có thể tách trùn hoặc thu tỉa để nhân luống hoặc cho gia súc, gia cầm ăn. Trước khi nhân luống 2-3 ngày phải cho trùn ăn. Lúc này trùn tập trung trên bề mặt luống. Dùng len xúc phần trên của luống khoảng 10-20cm bỏ vào luống mới và tiếp tục cho luống cũ ăn cho đến khi đầy luống.

Thu hoạch:

Cần ngừng cho trùn ăn trước ngày thu hoạch 3 ngày để trùn bò lên phần trên, biện pháp này giúp thu hoạch rất dễ dàng. Trải tấm đệm hay tấm nilon ra sân trống (có ánh sáng để trùn chui xuống dưới) rồi xúc toàn bộ phần đất trên mặt luống (khoảng 20 cm) và đổ lên tấm đệm thành hình chóp. Sau đó rũ bỏ phần phân trùn bên trên, sau 5 - 10 phút trùn sẽ chui xuống đáy và tụ lại thành cuộn, lật nhanh tấm nylon và nhanh chóng bắt trùn vào thùng. Chú ý lấy lớp phân trùn này cho trở lại luống để tiếp tục nuôi như chất nền.

Cách sử dụng: 

Có thể dùng trùn quế còn sống cho ăn trực tiếp với các loại gia cầm như gà, vịt, ngan. Cho các loài thủy sản như cá giống, cá cảnh, ếch, lươn và các loại tôm cá nuôi thương phẩm khác. Sản phẩm sấy khô, nghiền nát làm thức ăn cho cá cảnh; chế biến thực phẩm cho gia súc, gia cầm. Phần nền (phân trùn) sau khi nuôi trùn có thể lấy bón trực tiếp cho các loại cây màu như rau, đậu đỗ, cây ăn trái rất tốt. Bà con nuôi tôm, cá có thể dùng phân trùn để xử lý nước cho ao rất hữu hiệu.

 

Page 1 of 9

  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  8 
  •  9 
  •  Next 
  •  End 
  • »