Saturday, Jul 31st

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Chăn nuôi Gia súc

Gia súc

Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng bê cái hướng sữa giai đoạn bú sữa

1. Chăm sóc và nuôi dưỡng trong thời gian bú sữa đầu (từ khi sinh đến 7 ngày tuổi)

Ngay sau khi bê được sinh ra, nếu dây rốn không tự đứt, người đỡ đẻ dùng tay trái cầm rốn bê, cách cuống rốn khoảng 10 cm, đồng thời dùng ngón trỏ và ngón cái tay phải vuốt mạnh rốn xuôi về cuống và cắt rốn ở khoảng cách 5 - 6 cm, sau đó sát trùng chỗ cắt bằng cồn iốt 5%.


Dùng tay móc nhớt bẩn trong miệng bê. Dùng khăn, bao tải, rơm khô mềm lau toàn bộ cơ thể. Cho bê ăn sữa đầu ngay, càng sớm càng tốt. Sữa đầu rất quan trọng vì giúp tẩy sạch đường tiêu hoá, chứa nhiều kháng thể và các chất dinh dưỡng khác, làm tăng sức đề kháng của bê, tạo thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển sau này.

Khi cho bê ăn sữa đầu cần lưu ý:
- Phải lau rửa sạch bầu vú bò mẹ trước khi vắt sữa đầu.
- Vắt ra cho bê ăn ngay, cho ăn bằng xô hay bình, xô và bình phải rất sạch sẽ.
- Sữa của bò mẹ nào thì cho chính bê đó ăn. Trường hợp bò mẹ bị viêm vú, mất sữa đột ngột hoặc chết, có thể lấy sữa đầu của bò mẹ khác thay thế.
- Lượng sữa đầu cho bê ăn khoảng 2 – 4 kg/ngày (bằng khoảng 1/10 trọng lượng cơ thể) và chia làm 3 – 5 lần.

Lúc đầu bê chưa quen ăn sữa trong xô, cần tập cho bê như sau: nhúng ngón trỏ vào xô sữa, cho bê mút ngón tay, đồng thời từ từ hạ tay xuống xô sữa và cứ làm như vậy cho đến khi bê quen ăn sữa trong xô.
Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 sau khi sinh, bôi thức ăn tinh hỗn hợp quanh môi, miệng bê để bê làm quen và tập ăn.
Giai đoạn đầu mới sinh, bê chưa quen với điều kiện bên ngoài môi trường và rất nhạy cảm với bệnh tật, do đó nên nuôi bê trong cũi riêng với kích thước dài 150 cm x rộng 100 cm x cao 120 cm. Cũi nuôi bê cần lót rơm khô, sạch, mềm. Đặt cũi nơi thoáng, khô ráo, tránh gió lùa và ẩm ướt. Thời gian nuôi bê trong cũi chỉ nên 3 tuần đầu sau khi sinh. Vào mùa đông thời gian nuôi trong cũi có thể kéo dài hơn.

2. Chăm sóc và nuôi dưỡng bê cái đến khi cai sữa

Sau khi ăn hết sữa đầu, chuyển bê sang chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng giai đoạn bú sữa thường. Giai đoạn này thường kéo dài 3 – 5 tháng.
Cần chú ý:
- Cho bê ăn mỗi ngày 5-6 kg sữa (tháng thứ 1 và tháng thứ 2), 4-5 kg sữa (tháng thứ 3) và giảm xuống 3-4 kg sữa (tháng thứ 4), chia làm 2 lần cách nhau 12 giờ, sữa vắt ra cho bê ăn ngay hoặc phải hâm nóng 38 – 400C, dụng cụ chứa sữa phải tuyệt đối sạch sẽ.
- Khi bê được một tuần tuổi, cho thức ăn tinh hỗn hợp vào máng ăn hoặc xô để bê ăn tự do (lúc đầu không quá 0,1kg/ngày sau đó tăng dần). Thức ăn tinh hỗn hợp phải thuộc loại chất lượng tốt, không ẩm mốc, có tỷ lệ đạm thô khoảng 18%.
- Khi bê được hai tháng, cho ăn cỏ chất lượng tốt.
- Mỗi buổi sáng, phải thu dọn thức ăn thừa bỏ đi và thay thế bằng thức ăn mới.
- Đảm bảo có nước uống sạch sẽ thường xuyên và mỗi ngày phải thay nước 2 lần.
- Trong tháng đầu nên cho bê vận động trên sân chơi mỗi ngày 2 - 5 giờ. Sau đó, hằng ngày chăn thả bê tự do trên bãi chăn.
- Thường xuyên tắm chải cho bê: mùa hè 2 lần/ngày, mùa đông mỗi ngày 1 lần lúc trưa nắng.
- Chuồng nuôi phải thông thoáng, sạch sẽ, ấm áp, có diện tích 2 – 2,5 m2. Thường xuyên dọn và thay ổ lót chuồng. Hằng tháng khử trùng bằng crezyl 3%, nước vôi 10% hoặc dung dịch formol 0,5%.
- Trước khi cai sữa cần tẩy giun sán cho bê.
Trong cả giai đoạn này cần sử dụng 300 – 500 kg sữa tươi, 100 kg cỏ khô và 100 kg thức ăn tinh. Để tiết kiệm sữa tươi hàng hoá, có thể dùng các loại sữa thay thế để nuôi bê

Theo tờ tin KNKNVN

Kỹ thuật phối trộn thức ăn tinh hỗn hợp

Trong thực tế, người chăn nuôi cung cấp cho gia súc, gia cầm các loại "thức ăn tinh" mà thông thường đó là các loại nguyên liệu thức ăn. Nếu chúng ta cho ăn từng loại "thức ăn tinh" riêng biệt như vậy, dù chất lượng tốt như bột ngô, khô dầu, đậu tương..... vẫn không thể bảo đảm sự cân bằng dinh dưỡng, tức là có thể dư thừa chất này mà lại thiếu chất khác. Chính vì vậy, cần phối hợp các loại thức ăn (các nguyên liệu thức ăn) theo các tỷ lệ nhất định, sao cho hỗn hợp tạo ra có hàm lượng các chất dinh dưỡng cân đối, phù hợp với nhu cầu của từng loại gia súc, gia cầm.

Trên thị trường có nhiều loại thức ăn tinh hỗn hợp do nhiều hãng sản xuất. Nhìn chung, các loại thức ăn này có chất lượng tốt. Tuy nhiên, các loại thức ăn này thường đắt và nếu dùng nhiều sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi. Mặt khác, chúng ta không thể tận dụng được một cách hiệu quả các loại phụ phẩm như cám gạo, tấm, bột ngô, bột đậu tương ...... sẵn có trong mỗi gia đình.

Vì vậy, mỗi người chăn nuôi hoàn toàn có thể tự phối trộn được thức ăn tinh hỗn hợp.

1. Yêu cầu chung khi phối trộn thức ăn tinh hỗn hợp

- Cần có từ ba loại thức ăn trở lên. Càng có nhiều loại thức ăn trong thành phần càng tốt. Cần sử dụng tối đa các loại thức ăn sẵn có của gia đình.

- Các loại thức ăn đem phối trộn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc, hấp hơi hoặc có mùi lạ.

- Các nguyên liệu thức ăn trước khi phối trộn phải được nghiền nhỏ.

- Khối lượng thức ăn phối trộn đảm bảo đủ dùng trong vòng một tuần, không phối trộn khối lượng quá lớn để tránh giảm chất lượng do bảo quản lâu.

- Thức ăn tinh hỗn hợp phải rẻ, dễ sử dụng và dễ bảo quản.

2. Một số công thức phối trộn thức ăn cho gia súc nhai lại

(tính cho 100 kg thức ăn tinh hỗn hợp)

+ Công thức 1:

- Cám gạo: 35 kg;

- Bột sắn: 10 kg; 

- Bột ngô: 30 kg;

- Khô dầu các loại: 10 kg;

- Bột cá (với NaCl <15%): 10 kg; 

- Bột sò hoặc bột xương: 4 kg;

- Urê: 0,5 kg;

- Premix khoáng và vitamin: 0,5 kg.

+ Công thức 2:

- Bột sắn: 85 kg;

- Khô dầu các loại: 10 kg;

- Urê: 3 kg;

- Muối ăn: 1 kg;

- Bột xương: 1 kg.

+ Công thức 3:

- Bột sắn: 65 kg;

- Cám gạo: 20 kg;

- Bột cá (với NaCl <15%): 10 kg; 

- Urê: 4 kg;

- Bột xương: 1 kg.

+ Công thức 4:

- Bột sắn: 65 kg;

- Bột ngô: 25 kg;

- Khô dầu các loại: 5 kg;

- Urê: 3 kg;

- Muối ăn: 1 kg;

- Bột xương: 1 kg.

+ Công thức 5:

- Bột sắn: 45 kg;

- Bột ngô: 50 kg;

- Urê: 3 kg;

- Muối ăn: 1 kg;

- Bột xương: 1 kg.

Để phối chế thức ăn tinh hỗn hợp cũng có thể sử dụng một loại thức ăn đậm đặc sản xuất công nghiệp, sau đó cho thêm một số thành phần, bảo đảm tạo ra một hỗn hợp vừa rẻ, chất lượng tốt, vừa sử dụng được các thức ăn sẵn có của gia đình.

3. Cách phối trộn và bảo quản

- Đổ dàn đều các loại nguyên liệu thức ăn ra nền nhà hoặc sân gạch theo thứ tự loại nhiều đổ trước loại ít đổ sau.

- Đối với một số loại nguyên liệu thức ăn có khối lượng nhỏ như khoáng, vitamin… phải trộn trước với một ít bột ngô hoặc cám gạo để tăng khối lượng sau đó mới trộn lẫn với các nguyên liệu khác.

- Dùng xẻng hoặc tay trộn thật đều, sau đó đóng vào bao, buộc kín lại.

- Bao thức ăn phải được đặt trên giá kê, không tiếp xúc trực tiếp với nền và tường nhà. 

- Thức ăn đã phối trộn cần được bảo quản nơi khô ráo, mát, có mái che.

- Có biện pháp tránh để chuột phá hoại.

Phùng Quốc Quảng - PGĐ. Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốc gia

Một số vấn đề cần chú ý trong chăn nuôi bò sữa

Người ta có thể ví con bò sữa như một cỗ máy. Để cho máy chạy khoẻ, hiệu quả cao ta phải chọn mua loại máy tốt, phải thường xuyên chăm sóc, bảo dưỡng. Để cho máy hoạt động được thì ta phải cung cấp nhiên liệu cho nó. Máy càng tinh vi, hiện đại thì nhiên liệu cũng càng phải có chất lượng cao.

 

Con bò sữa là một “cỗ máy” hiện đại. Chính vì vậy, việc chọn mua, chăm sóc, nuôi dưỡng và khai thác phải đặc biệt cẩn thận. 
Trong chăn nuôi bò sữa chúng ta cần chú ý những vấn đề sau đây: 

1 - Về viêc chọn mua bò sữa 
Câu hỏi đặt ra là nên chọn mua giống bò nào? Câu trả lời tưởng chừng đơn giản: cứ chọn bò Hà Lan thuần, có năng suất sữa cao mà nuôi! Thực tế không đơn giản như vậy và cũng không nên tuỳ tiện mà phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm chăn nuôi của chủ hộ, cũng như các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và chuồng trại (điều kiện kinh tế và hạ tầng kỹ thuật) của mỗi gia đình. Những gia đình mới bắt đầu chăn nuôi bò sữa, do còn thiếu kinh nghiệm (và đôi khi cả khả năng kinh tế còn hạn chế) nên chọn mua bò lai F1 (Lai Sind x Hà Lan) hoặc bò lai F2 (F1 x Hà Lan). Không nên chọn mua bò Hà Lan thuần hoặc bò lai có tỷ lệ máu bò Hà Lan cao (F3, F4...). Bởi vì bò sữa Hà Lan thuần hoặc bò lai có tỷ lệ máu bò Hà Lan càng cao (bò F3, F4-7/8 và 15/16 máu bò Hà Lan) thì càng “ khó tính”, càng kém chịu đựng được điều kiện nóng ẩm và kham khổ do thiếu thốn thức ăn. Khi nhiệt độ lên trên 340C, bò có tỷ lệ máu bò Hà Lan cao thường thở dốc, xù lông, năng suất sữa giảm. Mặt khác, tỷ lệ nhiễm bệnh tăng, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh tụ huyết trùng. (thực tế chăn nuôi bò sữa ở nước ta chỉ ra rằng, bò sữa Hà Lan thuần thích hợp nhất ở một số vùng như Mộc Châu - Sơn La, Đức Trọng - Lâm Đồng - nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân hàng năm 210C).

Dù có nuôi bò lai F1 hoặc F2… việc chọn con có năng suất cao (tương ứng với từng giống) rất quan trọng. Hiện nay, giá bò sữa thường tính theo năng suất. Vì vậy, khi mua bò, nếu là bò đang khai thác sữa, cần kiểm tra năng suất sữa thực tế. Cũng phải xem xét nó đang tiết sữa kỳ thứ mấy, tháng thứ mấy của chu kỳ (thông qua sổ sách-nếu có, hỏi người chủ, quan sát và xem răng để định tuổi...). Giả sử là bò F2, đang tiết sữa tháng thứ hai của chu kỳ 3 mà mỗi ngày chỉ vắt được 10 lít sữa thì phải dè chừng!

Việc không thể xem nhẹ là kiểm tra hình dạng và cấu trúc bầu vú, cũng như hệ thống mạch máu tuyến vú. Xin nhớ là chỉ có bầu vú phát triển, mềm mại, các tĩnh mạch nổi rõ, cuộn lên như sợi dây thừng thì mới cho nhiều sữa (vì máu vận chuyển các chất đến bầu vú để tạo sữa và để tạo ra 01 lít sữa cần 540 lít máu chảy qua bầu vú).

Ngoài ra, cũng nên nhớ rằng, chỉ khi nào bò đẻ mới cho ra hai sản phẩm quan trọng nhất là bê và sữa. Vì vậy, khi mua bò cần chú ý kiểm tra cơ quan sinh dục, đối với loại bò trưởng thành đã đẻ cũng như đối với bò cái tơ chưa đẻ lứa nào. Việc kiểm tra này cần trông cậy vào các bác sỹ thú y chuyên khoa bằng quan sát cơ quan sinh dục bên ngoài và sờ khám qua trực tràng để xem cơ quan sinh dục của con bò ấy có phát triển bình thường không? tử cung, buồng trứng... có bị viêm nhiễm, teo nhỏ không?... Tức là phải biết được con bò ấy có đẻ được không và sinh đẻ có tốt không? 

2 - Về việc nuôi dưỡng 
Cũng như một số động vật khác, bò sữa cần một lượng dinh dưỡng để duy trì cuộc sống (hô hấp, hoạt động tim mạch, vận động... ). Ngoài ra, bò sữa cần một lượng dinh dưỡng rất lớn cho tăng trọng, nuôi thai và sản xuất sữa. Chúng ta hãy thử hình dung: hàm lượng vật chất khô (các chất đạm, đường, mỡ, khoáng...) trong sữa trung bình là 12% (tức là trong 1kg sữa có chứa 120g vật chất khô). Như vậy, một con bò sữa (giả sử nặng 400kg) có sản lượng sữa trung bình 4.000 kg/chu kỳ thì trong thời gian một chu kỳ nó tạo ra một lượng vật chất khô 480kg, nghĩa là lớn hơn rất nhiều so với khối lượng cơ thể bản thân nó. Mà các chất này chỉ có thể được tạo ra trong sữa, từ thức ăn cung cấp cho con bò. Điều đó muốn nói lên rằng, việc cung cấp thức ăn đầy đủ, với chất lượng tốt cho bò sữa quan trọng biết chừng nào. Chúng ta không thể có nhiều sữa, sữa chất lượng tốt khi chỉ cho bò ăn rơm lúa hoặc các thức ăn kém phẩm chất. Cũng giống như chúng ta không thể đổ xăng chất lượng kém vào xe máy mà nó có thể chạy khỏe được!

Nuôi dưỡng bò sữa thực chất là nuôi dưỡng các loài vi sinh vật sống trong dạ cỏ. Nuôi dưỡng bò sữa đúng kỹ thuật tức là tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho hệ vi sinh vật trong dạ cỏ phát triển bình thường. Chúng ta phải cung cấp khẩu phần thức ăn cân đối, phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng con; không thay đổi thức ăn đột ngột; chia thức ăn tinh ra thành nhiều bữa... Trong nuôi dưỡng bò sữa, điều cần chú ý là bảo đảm đầy đủ khẩu phần thức ăn thô xanh. Chính thức ăn thô xanh là yếu tố cơ bản cho hệ vi sinh vật dạ cỏ hoạt động bình thường, bò cho năng suất sữa cao và chất lượng sữa tốt. Muốn vậy, phải lưu ý áp dụng các biện pháp giải quyết thức ăn thô xanh như trồng ngô dày, trồng cỏ… Trong điều kiện của miền Bắc nước ta, do vụ đông - xuân khô hanh kéo dài thường thiếu cỏ và các loại thức ăn xanh khác, cần áp dụng biện pháp ủ chua để dự trữ, chủ động có đủ thức ăn thô xanh quanh năm.

Thức ăn của bò sữa rất đa dạng, các loại phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến cũng là nguồn thức ăn rất có giá trị nuôi bò sữa. Việc tận dụng các nguồn thức ăn này kết hợp với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để xử lý, bảo quản cho phép chúng ta hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa một cách đáng kể. Đây chính là một trong những bí quyết quan trọng để thành công. Bởi vì chi phí thức ăn chiếm khoảng 70% trong tổng chi chăn nuôi bò sữa!

Do đặc điểm tiêu hoá thức ăn của bò sữa : 
- Nên sử dụng nguồn đạm vô cơ (phân urê) để bổ sung vào khẩu phần thức ăn. Đây là cách bổ sung đạm rẻ tiền và mang lại hiệu quả cao 
- Không cần cho ăn thêm bột cá, gây lãng phí và tốn kém 
- Không cần đun nấu thức ăn cũng như không hoà loãng thức ăn như nuôi lợn. Cho ăn sống, khô và uống nước sạch, uống nước tự do. Nên lưu ý là nước uống đối với bò sữa cũng quan trọng như thức ăn vậy ! 

3 - Về vấn đề chăm sóc và khai thác sữa 
Việc chẩn đoán và điều trị một số bệnh của bò sữa nên trông cậy vào bác sỹ thú y có chuyên môn trong lĩnh vực bệnh bò sữa 
Chúng tôi khuyến nghị bà con nên tuân thủ nguyên lý “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Đừng lơ là biện pháp phòng bệnh và/hoặc tiết kiệm một chút tiền mà sẽ phải bỏ ra khoản tiền lớn để điều trị, thậm chí mất cả con bò.

Các biện pháp phòng bệnh chủ yếu là: 
- Thường xuyên vệ sinh chuồng trại, bảo đảm chuồng trại luôn trong tình trạng sạch sẽ, thông thoáng 
- Diệt ruồi, muỗi và các loài ký sinh ngoài da 
- Nuôi dưỡng đúng quy trình kỹ thuật 
- Áp dụng các biện pháp phòng bệnh viêm vú 
- Tiêm điều trị dự phòng ký sinh trùng đường máu 
- Tiêm phòng bệnh tụ huyết trùng, dịch tả, lở mồm long móng

Một vấn đề quan trọng khác là làm sao để bò đẻ càng nhiều càng tốt, tốt nhất là năm một. Chỉ khi bò chửa, đẻ ta mới có sữa, có bê con. Như vậy, ngoài các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh, vấn đề đặt ra là phải phát hiện động dục kịp thời, phối tinh với chất lượng tốt, đúng kỹ thuật, đúng thời điểm, để làm sao bò cái sớm có chửa lại sau khi đẻ, tức là rút ngắn khoảng cách lứa đẻ. Bỏ lỡ, hỏng một chu kỳ động dục là chúng ta chẳng những mất đi một lượng sản phẩm đáng kể mà còn phải chịu thêm nhiều chi phí cho thức ăn, nhân công... do phải "nuôi báo cô". Muốn vậy, không nên coi phát hiện động dục là một công việc tuỳ tiện, ngẫu nhiên mà là công việc có chương trình, có kế hoạch. Để nâng cao hiệu quả, cần có quyển sổ theo dõi động dục và các diễn biến quá trình sinh sản của từng con bò cái: ngày đẻ, đẻ như thế nào (đẻ dễ hay khó), ngày động dục, ngày phối, phối loại tinh gì, ai phối...

Cuối cùng, cũng cần nói thêm: vắt sữa là một công việc nặng nhọc, nhưng cũng nên nhớ là bò sữa cho ra nhiều sữa khi nó ở trong trạng thái thoải mái, bò sữa cũng có “tình cảm“ với người nuôi nó. Chính vì vậy, ngoài việc cần tuân thủ các quy định kỹ thuật vắt sữa như đúng giờ giấc, vệ sinh vắt sữa... chủ nuôi hoặc những người hàng ngày trực tiếp chăm sóc, cho bò ăn nên đảm nhiệm công việc vắt sữa. Không nên thuê người vắt sữa “gọi là chuyên nghiệp“ bên ngoài (như hiện tượng đã và đang diễn ra ở một số nơi). Bởi vì những người này, vì chạy theo lợi nhuận và/hoặc thậm chí tác trách nên họ rất tuỳ tiện về giờ giấc, về kỹ thuật vắt sữa. Họ là tác nhân làm “hỏng“ bò sữa, làm lây truyền bệnh viêm vú và các bệnh khác từ con bò này sang con bò khác

Q.Q

Quản lý đàn lợn để chăn nuôi đạt hiệu quả cao

I. Chu chuyển đàn: 
1 . Bước đầu tiên là xác định số lượng lợn muốn nuôi mỗi năm. Trong bài báo cáo này, giả định là 2,500 con. 
2. Chúng ta cần đặt các giả thiết sau để có được quy mô toàn trại và từng bộ phận cho mục tiêu chung 

Một số giống cỏ dùng trong chăn nuôi gia súc

Một số giống cỏ dùng trong chăn nuôi gia súc 
Có thể nói, đối với vấn đề trồng cỏ, thật không có gì dễ bằng. Để khắc phục tình hình thiếu thức ăn trong ngành chăn nuôi, đặc biệt là vào thời kỳ hạn hán như hiện nay, việc trồng các giống cỏ cao sản được xem như một giải pháp hữu hiệu, vừa tạo ra nguồn thức ăn cho gia súc, đồng thời bảo vệ tốt điều kiện môi trường,  tăng độ phì nhiêu cho đất.

Trồng cỏ cao sản không phải là hướng đầu tư ngày một ngày hai mà đây là hướng đầu tư về lâu về dài. Đó chính là lời nhận xét của những người lâu nay đã trồng cỏ. Để có một ha cỏ, người nông dân phải bỏ tiền ra mua từ 6-7 tấn hom giống (cỏ voi) với giá là 1.000 đồng/kg cỏ voi. Hơn 300.000 đồng/kg hạt cỏ sả, Zuri và các giống cỏ khác. Nhưng chỉ đầu tư nguồn giống 1 lần và thu hoạch được các vụ tiếp theo đó trong vòng 3 đến 4 năm. Để nhân rộng giống cho các loại cỏ, ngoài việc trồng bằng cách tách tép (đối với cỏ sả), trồng bằng thân (cỏ voi) thì cỏ sả cứ đến mùa khô hàng năm cây trổ hoa và đậu hạt, do đó người trồng cỏ cũng có thể thu được nguồn hạt giống để tự tái sản xuất.

Cỏ voi (Pennisetum purpuseum): 

Thuộc họ hoà thảo sống lưu niên.

Thân rễ cứng, hoá gỗ, mang nhiều rễ khoẻ và ăn sâu; thân đứng giống cây mía, cao 3-4m, mọc  thành bụi dài, rỗng ruột, có nhiều đốt. Cỏ voi được trồng bằng hom. Mọc rất nhanh và khoẻ. Trồng một lần, thu hoạch 4-5 năm mới trồng lại. Mỗi năm cắt được 7-8 lứa. Năng suất cỏ tươi đạt 120-150 tấn/ha/năm. Trồng thâm canh và thu cắt kịp thời năng suất gấp đôi, thậm chí có thể đạt 400 tấn/ha/năm như ở Gia Lâm (Hà Nội) Củ Chi, Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh). 

Cỏ sả (Panicum maximum): 

Mọc thành bụi như cây sả, còn gọi là cỏ Ghi – Nê vì có nguồn gốc từ Ghi – Nê được nhập vào nước ta từ 50-60 năm nay và đã trở thành cỏ mọc tự nhiên ở nhiều địa phương trong cả nước. Cỏ sả được trồng làm thức ăn xanh cho trâu, bò, ngựa ở dạng tươi ngoài bãi chăn nuôi hoặc ủ xanh và phơi khô dự trữ. Trồng một lần có thể thu hoạch 3-4 năm, mỗi năm cắt 8-10 lứa. Nếu chăm sóc tốt có thể đạt 280-300 tấn/ha/năm. 


Cỏ Stylo (Stylosanthes hamata): 

Là giống cỏ họ đậu, thân đứng, phân nhiều cành, có thể cao tới 1 m. Bộ rễ rất phát triển ăn sâu xuống đất khoảng 70cm, do đó nhiều nơi còn trồng để chống xói mòn đất, bảo vệ thân đê đập rất tốt. đây là loại thức ăn xanh rất tốt cho gia súc và gia cầm vì có tỷ lệ đạm cao. 


Cỏ Stylo trồng một lần có thể thu hoạch 4-5 năm. Năng suất có thể đạt 90- 100 tấn/ha/ năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt. 

 Cỏ họ đậu (Centro sema và Centro cavalcade): 

Cho năng suất cao ở mọi loại đất, mọi điều kiện khí hậu. Cỏ họ đậu mọc dày thành lớp nên có thể trồng thành đồng cỏ chăn thả hoặc cắt làm cỏ khô dự trữ qua đông cho bò sữa rất tốt. Mặt khác cỏ họ đậu có khả năng cố định đạm cho đất rất lớn (120kg nitrogen/ha) nên vừa có giá trị cải tạo đất vừa dùng làm thức ăn cho gia súc, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa. 

Có thể trồng xen cỏ họ đậu với các loại cỏ khác. Gieo trồng chủ yếu bằng hạt với lượng 3kg/ha để làm đồng cỏ chăn thả hoặc 10kg/ha nếu trồng để cắt cỏ làm cỏ khô. 

Hầu hết các giống cỏ cao sản đều có sức tăng trưởng nhanh, chịu được nóng, chịu hạn tốt và thích hợp với nhiều loại đất. Mùa mưa là thời gian cỏ phát triển nhanh nhất, mau cho thu hoạch (trung bình khoảng từ 20-25 ngày). Với tốc độ tăng trưởng như thế, người chăn nuôi có điều kiện dự trữ cỏ lại bằng cách ủ xanh hoặc phơi khô.
 
 
 Cỏ Pát (Paspalum Attratum)

Thuộc loại cỏ bụi thân cao. Có thể sinh trưởng tốt ở những chân đất nghèo dinh dưỡng và đất chua, có độ pH < 4. Cỏ Pát thích hợp với khí hậu ẩm, thích nghi với những vùng thường bị ngập lụt. Lượng chất xanh cao, bò rất thích ăn. Có thể trồng bằng thân hom hoặc gieo hạt với lượng 5-6 kg/ha. Trồng một lần thu hoặc liên tục 3 năm mới trồng lại. 

 Cỏ Signal (Brachiaria dicumben): 

Thích nghi rộng với nhiều điều kiện khí hậu, đất đai nhiều nơi ở nước ta. Cỏ Signal có thể sinh trưởng tốt ở những vùng đất nghèo dinh dưỡng và vùng đất chua phèn (pH<4) Những nơi có mùa khô kéo dài chúng vẫn giữ được màu xanh, cạnh tranh với cỏ dại, chịu được sự dẫm đạp của gia súc nên thích hợp cho xây dựng đồng cỏ chăn thả thường xuyên. 

Cỏ Sweet Jumbo và Superdan: 

Do Công ty Cổ phần Giống cây trồng miền Nam nhập từ Australia. Cả 2 giống cỏ này đều có độ ngọt cao hơn cỏ sả, cỏ voi, lại dễ để dành, nên rất thuận tiện cho đàn bò vỗ béo và các vùng có thời gian nắng kéo dài trong năm. Đây là giống cỏ lai F1 nên tăng trưởng mạnh, thu hoạch sớm. Lần đầu, thu hoạch 5 tuần sau gieo. Sau đó cứ  4 tuần cắt một lần. Cỏ trổ hoa muộn nên dinh dưỡng dồn hết cho lá. Cứ 12kg hạt cỏ gieo được cho 1 ha đất. 

Năng suất khoảng 50 - 55 tấn/ha cỏ tươi, rất thích hợp cho gia súc. Nếu trường hợp cần dự trữ, cỏ Sweet Jumbo ủ chua rất tốt, còn giống cỏ Superdan lại có lợi thế trong chế biến sấy hoặc phơi khô. 

 Cả 2 giống cỏ đều có cách trồng như nhau và dùng để vỗ béo bò, dê, cừu thịt hoặc lấy sữa... Gieo cỏ theo hàng với khoảng cách 60-80cm. Vườn ươm chuẩn bị thật tốt bằng cách bón lót 60 - 80kg Urê/ha hay 50kg DAP + 50kg Urê ngay trước khi trồng hoặc sau mỗi lần cắt. 

Do các loại cỏ này có bộ rễ phát triển mạnh ở tầng đất mặt nên sau mỗi đợt cắt và bón phân, cần xới xáo, lấp phân và vun gốc để tạo bộ rễ mới thật tốt. Điều này sẽ giúp tăng năng suất cỏ và số lần cắt. 

 Chỉ bắt đầu cắt hay thả gia súc vào đồng cỏ khi thấy cỏ cao khoảng 80cm. Nếu sớm quá, cỏ còn non, năng suất giảm, dinh dưỡng kém. Còn cỏ già quá, chất dinh dưỡng cũng mất đi.

 Người trồng cỏ cần lưu ý: Đây là những giống cỏ lai nên không được để giống trồng đợt 2, bởi năng suất, và chất lượng cỏ không đảm bảo. Sau 5 - 6 đợt cắt, nếu thấy sức tái sinh của cỏ yếu đi (dưới 50 tấn/ha) thì phải cày xới, gieo trồng lại đợt mới. 

Cỏ Vetiver

Còn gọi là cỏ hương bài, được trồng với mục đích bảo vệ tài nguyên đất và nguồn nước. Mặc dù lá của cây cỏ này cũng là một loại thức ăn mang lại nguồn dinh dưỡng cao cho gia súc nhưng cỏ Vetiver lại có bộ rễ rất hữu dụng. Người ta ví chúng như một hàng rào bê tông sinh học chống lại sự xói mòn, làm giảm vận tốc dòng chảy của nước, giữ đất không bị cuốn trôi.
Trên thế giới, giống cỏ này đã được sử dụng rộng rãi để chống xói mòn đất. Nhờ nó có bộ rễ đan xen vào nhau phát triển rất nhanh, cắm thẳng đứng, sâu vào đất từ 3-4 mét. Chúng còn có khả năng hấp thụ các loại khoáng chất có độc tính thải ra từ nguồn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật có trong nguồn nước, trong đất và làm cho đất tơi xốp, tăng độ phì nhiêu. Tại Việt Nam, cỏ Vetiver đã được Bộ Giao thông vận tải ứng dụng trồng ở 2 bên đường Hồ Chí Minh nhằm chống sụp lỡ đất của mặt đường. 

  

Một số địa chỉ cung cấp và tư vấn kỹ thuật:

- Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, 121 Nguyễn Bỉnh Khiêm – Q1 – TP.HCM 
ĐT: 84-8-8291746, 84-8-8297889; Fax: 84-8-8297650
Email: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it  
- Trung tâm Giống bò và Đồng cỏ Ba Vì, tỉnh Hà Tây
- Viện Chăn nuôi Quốc Gia , thị trấn Chèm, huyện Từ Liêm, Hà Nội
-Trung tâm Khuyến nông An giang, số 4 Nguyễn Du, Tp Long Xuyên, An Giang