Saturday, Jul 31st

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Chăn nuôi Thủy sản

Thủy sản

Cá lăng nha dễ nuôi, thu nhập cao

Trong dịp đến thăm người bà con ở tỉnh Đồng Nai, tôi được biết về một mô hình nuôi cá lăng nha trong ao cho thu nhập cao của anh Phạm Văn Hùng, ngụ ấp Suối Quýt, xã Cẩm Đường, huyện Long Thành.

 

Được Trạm khuyến nông huyện Long Thành tận tình hướng dẫn kỹ thuật, năm 2007, anh Phạm Văn Hùng đã mạnh dạn vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp huyện đầu tư thực hiện mô hình nuôi cá lăng nha trong ao. Anh Hùng cải tạo 1.500m2 ao cạnh nhà, lên bờ bao và làm vệ sinh sạch sẽ bằng 105kg vôi bột rồi phơi đáy ao 5 ngày. Tiếp đó, anh cho nước vào ao và tìm diệt các loại cá lóc, trê, ếch, rắn… Sau đó, anh đầu tư cả chục triệu đồng mua 2.000 con cá lăng nha giống thả vào ao ương nuôi.

Nguồn thức ăn cho cá lăng nha chủ yếu được anh Hùng sử dụng là cá tạp các loại và cá biển bằm nhuyễn… Lúc mới thả cá giống vào ao, anh chỉ cho chúng ăn 2 lần/ngày, vào sáng sớm và chiều tối. Một tháng sau khi thả nuôi, anh tăng lượng thức ăn lên theo quá trình tăng trưởng của cá… Cá lăng nha có tập tính ăn mạnh về đêm nên lượng thức ăn ban đêm được anh tăng gấp đôi so với lượng thức ăn ban ngày. Theo anh Hùng thì: Cứ đầu tư khoảng 2kg thức ăn sẽ cho ra 1kg cá lăng nha thương phẩm! Việc phòng ngừa dịch bệnh cho cá cũng được anh thực hiện kịp thời theo đúng quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn của cán bộ khuyến nông huyện. Anh thường xuyên thay nước ao nuôi, định kỳ 3 tháng một lần bón vôi bột trong ao và nơi cho cá ăn, với tổng liều lượng 75kg vôi để diệt mầm bệnh phát sinh…

Sau hơn 10 tháng nuôi, anh Hùng cho tát ao, thu hoạch được hơn 1.600 kg cá lăng nha thương phẩm, bán giá bình quân 70.000đồng/kg, thu trên 100 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư, công chăm sóc và thanh toán vốn - lãi cho Ngân hàng, anh Phạm Văn Hùng còn lãi hơn 50 triệu đồng! Suốt từ năm 2007 đến nay, mô hình nuôi cá lăng nha của anh Hùng đều cho thu nhập cao (trên dưới 50 triệu đồng/vụ nuôi/năm). Anh Phạm Văn Hùng cho biết: “Nuôi cá lăng nha trong ao tuy chi phí đầu tư cao, nhưng bù lại con cá này rất dễ nuôi, ít bị bệnh và khi nuôi nguồn thức ăn cho cá rất dễ tìm…; người nuôi chỉ cần có nguồn nước sạch, cho ăn đầy đủ, chăm sóc, phòng ngừa bệnh đúng quy trình hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật. Người nuôi có thể nuôi ghép cá lăng nha trong cùng một ao với các loại cá mè, trắm, hường, rô phi… để tăng thêm thu nhập”.

Hiện tại, anh Phạm Văn Hùng đang tiếp tục thả nuôi hơn 2.000 con cá lăng nha trong ao cũ. Đến nay, cá đã được nuôi hơn 5 tháng, đàn cá tăng trọng tốt, không thấy dấu hiệu cá bị bệnh… Nhiều bà con quanh vùng đang tìm đến anh Hùng để tìm hiểu và học hỏi cách thức nuôi cá lăng nha để áp dụng và nhân rộng. 

Nông Nghiệp VN 


KTNT - Lăng nha (Mystus wyckiioides) là loài cá nước ngọt, thịt trắng chắc, không xương dăm, mùi vị thơm ngon, giá trị thương phẩm cao. Trước đây, loại cá này chủ yếu được đánh bắt, khai thác từ tự nhiên. Tháng 7/2006, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang đã sản xuất giống cá lăng nha thành công với sự trợ giúp của Khoa Thủy sản (Trường Đại học Nông - lâm TP.Hồ Chí Minh). Xin giới thiệu cùng bà con kỹ thuật nuôi cá lăng nha thương phẩm.

Điều kiện ao, bè nuôi

Để nuôi cá lăng nha đạt hiệu quả, có thể áp dụng hình thức nuôi bán thâm canh trong ao hoặc trong bè. Tuy nhiên, nuôi trong bè cá lớn nhanh hơn.

Ao nuôi rộng 1.000m2 trở lên, sâu 1,5 - 2m. Độ che phủ mặt nước không quá 30%. Lớp bùn dày 10 - 15cm, có thể chủ động cấp - thoát nước.

Nếu nuôi bè, bè phải có thể tích 10m3 trở lên, đặt ở nơi có dòng chảy vừa phải.

Nguồn nước dùng để nuôi cá lăng nha phải đảm bảo các thông số: Độ pH từ 6 - 8 (tốt nhất 6,5 - 7,5); ôxy hòa tan trên 3mg/l; độ trong 30 - 40cm; độ mặn 0 - 50/00, hàm lượng NH3 dưới 0,01mg/l.

Chuẩn bị ao, bè

Việc chuẩn bị ao, bè có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Nếu tẩy trùng ao, bè tốt thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển.

Tẩy dọn ao: Sau khi tháo cạn nước, dùng vôi nông nghiệp (CaCO3) rải đều khắp đáy ao với lượng 10 - 15kg/100m2.

Ngay sau khi bón vôi, sử dụng sản phẩm chuyên dùng để hấp thụ khí độc hoặc chế phẩm sinh học Environ AC của Công ty Vĩnh Thịnh xử lý ô nhiễm nền đáy ao với liều 1 - 1,5kg/1000m3 nước để thúc đẩy việc phân huỷ chất hữu cơ và khử khí độc.

Phơi nắng đáy ao 1 - 2 ngày rồi khử trùng ao một lần nữa bằng một trong các sản phẩm BKC, liều 0,7 - 1lít/1000m3 hoặc Sanmolt F, liều 1 - 1,5 lít/1000m3. Không nên bón lót ao bằng phân chuồng.

Đối với bè, kiểm tra, gia cố bè thật kỹ trước khi thả cá. Dùng BKS hoặc Sanmolt F phun vào bè để diệt mầm bệnh. Đặt bè nơi ít sóng gió, dòng chảy vừa phải, thuận lợi trong việc vận chuyển cá, thức ăn.

Thả cá giống

Tiêu chuẩn: Cá không mất nhớt, đuôi và râu không bạc màu; cỡ đồng đều.

Mật độ: Nếu nuôi trong ao bán thâm canh (nuôi ghép): 4-5 con/m2 (trong đó cá lăng nha chiếm 20-30% tổng số cá thả). Thâm canh (nuôi đơn): 6-8 con/m2. Ngoài ra, cần thả thêm 3-5% cá rô phi thường để làm thức ăn cho cá. Nếu nuôi trong bè, mật độ 60-70 con/m3.

Thời gian thả: Tốt nhất vào buổi sáng (8-11 giờ).

Phòng bệnh cho cá bằng cách sát trùng (tắm cá) trước khi thả xuống ao, bè bằng muối ăn (1 muỗng canh pha trong 1 lít nước) hoặc BKS, Sanmolt F theo liều hướng dẫn.

Thức ăn

Có thể cho cá ăn bằng một trong các loại sau: cá tạp, cắt khúc vừa cỡ miệng. Thức ăn tự chế 50% cám + 50% cá. Thức ăn viên độ đạm ít nhất 35%.

Cho ăn 3 lần/ngày (sáng, chiều và tối). Cữ tối chiếm 40-50% tổng lượng thức ăn trong ngày.

Nên bổ sung chất bổ vào thức ăn để giúp cá tăng sức đề kháng, tiêu hoá tốt, lớn nhanh hơn như: Các loại Vitamin C; chế phẩm vi sinh vật, men tiêu hoá (Aqualact 1g/kg thức ăn); các sản phẩm chứa axít amin, sorbitol (Hepatofish 2,5g/kg thức ăn); khoáng vi lượng (Vitatech F liều lượng 1 - 2g/kg thức ăn).

Chăm sóc

Nếu nuôi ao, thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, nhất là vào sáng sớm để xử lý kịp thời. Định kỳ (15 - 20 ngày) thay nước ao một lần.

Từ tháng thứ 2 trở đi, định kỳ 10 -15 ngày tiến hành khử trùng nước và khử khí độc ở đáy ao bằng BKC liều 0, 5 lít/1.000m3 nước hoặc Sanmolt F liều 0, 7 – 1 lít/1.000m3.

Trong điều kiện nuôi bè, thường xuyên theo dõi hoạt động ăn mồi của cá, nhất là vào lúc nước đứng, nước đổ để xử lý kịp thời.

Phòng bệnh cho cá bằng cách: Treo túi vôi ở đầu bè. 15 ngày khử trùng bè 1 lần bằng BKC (phun trực tiếp xuống bè).

Hiện, Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang có thể cung cấp con giống và tư vấn kỹ thuật cho những hộ có nhu cầu. Mọi chi tiết xin liên hệ: Trung tâm Khuyến ngư và Giống thủy sản An Giang. Địa chỉ: Quốc lộ 91, phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên, An Giang. Điện thoại: 076.831657.

Trần Thế Tường

 


Quy trình sản xuất giống cá lăng vàng


Quy trình sản xuất giống cá lăng vàng (phần 1)

Cá lăng vàng bố mẹ

1. Thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ

1.1 Thuần dưỡng cá làm bố mẹ

Nếu cá bố mẹ có nguồn gốc tự nhiên hoặc nuôi trong bè (được cho ăn bằng cá tạp) thì phải thuần dưỡng chúng trong ao đất từ 1-2 tháng rồi mới tiến hành nuôi vỗ. Việc thuần dưỡng nhằm mục đích tập cho cá quen với điều kiện nuôi ao đất và thức ăn viên dạng nổi. Ban đầu cho cá nhịn đói vài ngày rồi bắt đầu cho ăn bằng thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm tổi thiểu 30%. Mới đầu cho cá ăn lượng thức ăn viên ít, sau đó tăng dần lên theo khả năng bắt mồi của chúng. Tuy nhiên, để phòng trường hợp cá chưa kịp thích nghi với thức ăn viên, ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn cá, trong thời gian đầu của việc thuần dưỡng nên bổ sung thêm thức ăn là cá tạp cắt nhỏ (khẩu phần 0,5-1% trọng lượng đàn cá). Lượng thức ăn cho cá ăn vào buổi tối chiếm 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày.

1.2 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá được chọn làm bố mẹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: 
- Trọng lượng từ 200-500gr/con: Cá cái 1-4 tuổi, cá đực từ 2-5 tuổi; 
- Cá đực và cá cái có nguồn gốc khác nhau về vùng địa lý và bố mẹ; 
- Cá mạnh khỏe, không nhiễm bệnh, không dị hình, không sây sát và không mất nhớt; 
Tiêu chuẩn của ao nuôi vỗ: 
- Diện tích ao tối thiểu là 300m2, tốt nhất từ 500-1.000m2; 
- Độ sâu mực nước 1,2-15m; 
- Ao thông thoáng, ít hoặc không có bóng râm che mặt nước; 
- Nguồn nước cấp cho ao chủ động, trong sạch, không nhiễm phèn, không nhiễm mặn; 
- Ao có độ trong cao (30-40cm). 
- Lớp bùn đáy ao từ 10-20cm. 
Mật độ nuôi vỗ 0,5kg/m2, tỷ lệ đực cái là 2/1 hoặc 3/1. Có thể nuôi chung hoặc nuôi riêng đực cái . Nuôi vỗ cá lăng vàng cũng được chia làm hai giai đoạn: 
- Giai đoạn nuôi tích cực: Cho cá ăn bằng thức ăn viên nổi (do Greenfeed hoặc Cargill sản xuất) có hàm lượng đạm tối thiểu là 26% với khẩu phần 3% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho ăn với lượng thức ăn 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng và khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ. 
- Giai đoạn nuôi thành thục: Cũng cho cá ăn bằng thức ăn viên nổi nhưng có hàm lượng đạm tối thiểu là 35% với khẩu phần 1-2% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho ăn với lượng thức ăn 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin, nhất là vitamin E và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng, khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ và nhanh thành thục sinh dục. 
Vì cá lăng vàng có tập tính sống và hoạt động ở tầng đáy nên trong quá trình nuôi vỗ định kỳ 15 ngày một lần khử trùng nước ao, khử khí độc và phân hủy chất hữu cơ ở đáy ao bằng các sản phẩm chuyên dùng trong nuôi trồng thủy sản như IODIS, FIDIS hoặc MIZUPHOR và XORBS. Với chế độ nuôi vỗ như trên, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt từ 80% trở lên và thời gian tái phát dục của cá cái là 2,5-3 tháng.

2. Kích Thích Sinh Sản

Có thể sử dụng hai hình thức cho cá sinh sản là gieo tinh nhân tạo và sinh sản tự nhiên. Tuy nhiên, để sản xuất giống hàng loạt và chủ động nên dùng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo và khử dính trứng rồi ấp trong bình weis.

2.1 Chọn cá cho sinh sản

Chọn cá bố mẹ cho sinh sản dựa theo các tiêu chuẩn sau: 
- Cá cái: Dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu và có thể dùng que thăm trứng để xác định độ thành thục của từng cá thể theo các tiêu chuẩn: 
+ Bụng to và mềm đều; 
+ Lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng; 
+ Sự cực hóa của nhân đạt trên 80% tổng số trứng lấy ra; 
+ Trứng có màu vàng nhạt, kích thước 1,2-1,3mm; 
+ Trứng căng tròn và có độ rời cao. 
- Cá đực: Dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu. 
+ Thân thon dài, không quá mập, 
+ Gai sinh dục càng dài càng tốt và có màu ửng hồng ở đầu mút, 
+ Mạch máu phân bố ở da bụng càng nhiều càng tốt.

2.2 Tiêm chất kích thích sinh sản

Sử dụng LH-RHa kết hợp với Domperidone để kích thích cá rụng trứng với tổng liều là 100µg LH-RHa/kg cá cái. Liều sơ bộ là 30µg/kg cá cái và liều quyết định là 90µg/kg cá cái. Khoảng thời gian giữa hai lần tiêm là 5 giờ. Liều của cá đực bằng 1/3-1/2 liều của cá cái. Thời gian hiệu ứng của LH-RHa là 5 giờ tính từ lúc tiêm liều quyết định (nhiệt độ nước 29-300C). Tỷ lệ rụng trứng đạt 90% trở lên.

alt

Thăm trứng cá cái

alt

Tiêm LH-RHa

2.3 Gieo tinh

Sử dụng phương pháp gieo tinh bán khô. Sau khi kiểm tra thấy cá cái rụng trứng hoàn toàn, bắt đầu chuẩn bị gieo tinh. Đầu tiên giải phẫu cá đực thu buồng tinh, lau sạch và khô buồng tinh rồi cho vào cối sứ. Sau đó, vuốt trứng cá cái vào thau nhựa đã lau sạch và khô. Trung bình buồng tinh của cá đực nặng 500g có khả năng thụ tinh 300-400g trứng. Sau khi vuốt trứng xong, cân tổng trọng lượng trứng đã vuốt. Sau đó, dùng kéo cắt nhuyễn buồng tinh rồi cho 20-30mL nước cất vào cối sứ chứa tinh dịch và ngay tức khắc đổ tinh dịch vào thau trứng. Dùng lông gia cầm khuấy đảo đều và liên tục trong khoảng 1 phút.

Sau khi gieo tinh xong, rửa trứng bằng nước sạch 1-2 lần rồi khử dính bằng phương pháp Carbamide. Khi trứng mất tính dính hoàn toàn, rữa trứng bằng nước sạch 2-3 lần rồi tiến hành khử trùng trứng bằng SANMOLT-FTM hoặc ROOTTM5X và rưa lại bằng nước sạch 3-4 lần rồi đem đi ấp trong bình weis. Sau khi gieo tinh 6-7 giờ, tiến hành xác định tỷ lệ thụ tinh và trong qui trình này tỷ lệ thụ tinh thường đạt hơn 50%. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm sinh dục, nhất là chất lượng buồng tinh.

2.4 Ấp trứng

Sau khi khử dính và khử trùng, trứng được ấp trong bình weis. Sử dụng bình weis bằng thủy tinh là tốt nhất để dễ dàng trong việc chăm sóc trứng và thu ấu trùng cá. Lưu tốc trong quá trình ấp dao động từ 1-1,5L/phút. Ở nhiệt độ nước 29-31oC, thời gian nở của cá lăng vàng dao động từ 18-20 giờ. Tỷ lệ nở của cá lăng vàng dao động từ 70 đến 80%.

Sau khi trứng nở hoàn toàn, thu ấu trùng cho vào bể composite, bể bạt hoặc bể xi-măng để ương nuôi. Au trùng mới nở có kích thước khá nhỏ (4mm), thân trong suốt, nằm ở đáy bể và chưa bôi lội chủ động. Đến ngày tuổi thứ hai, cá thường bám xung quanh thành bể. Sau 3 ngày tuổi, cá bơi chủ động, thân bắt đầu xuất hiện sắc tố đen, noãn hoàng tiêu biến và ăn được phiêu sinh động vật loại nhỏ.

(Còn tiếp)

BBT (theo tài liệu KNKNVN)

_________________________________

Kỹ thuật nuôi cá lăng vàng 

Cá lăng vàng là một trong những loài cá lăng hiện diện ở các thủy vực nước ngọt và lợ nhẹ thuộc miền Đông và đồng bằng sông Cửu Long. Đây là một trong những loài cá bản địa có thịt thơm ngon và bổ dưỡng. Hiện nay, cũng như các loài cá bản địa khác, cá lăng vàng ngày càng bị khai thác nghiêm trọng nên sản lượng cá tự nhiên ngày một giảm thấp. Do đó, giá cá thịt, cá lăng ngày càng cao, dao động từ 35.000 đ đến 80.000 đ/kg cá sống tuỳ thuộc vào trọng lượng cá và mùa vụ.

Vì vậy, nghề nuôi cá lăng vàng trong áo đất hứa hẹn nhiều thuận lợi về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế. Để nuôi cá lăng vàng đạt hiệu quả như mong muốn, người nuôi có thể áp dụng một trong hai hình thức nuôi: nuôi thâm canh hoặc nuôi bán thâm canh. Dù là hình thức nuôi nào, người nuôi cũng nên thực hiện đúng các biện pháp kỹ thuật dưới đây.

1. Điều kiện ao nuôi:

Trong nghề nuôi cá thâm canh, điều kiện ao nuôi là một trong những yếu tố quan trọng - quyết định đến kết quả của một vụ nuôi. Dưới dây là những tiêu chuẩn của một ao nuôi cá lăng vàng thương phẩm.

- Diện tích ao ít nhất là 500 m2, độ sâu mực nước 1-2 m.

- Ao thoáng mát, độ che phủ mặt nước ao không quá 30% tổng diện tích mặt nước

- Đáy ao không nhiều bùn (lớp bùn dày 10-15 cm).

- Nước có chất lượng tốt:

+ pH từ 6,5 – 7,5;

+ Ôxy hoà tan trên 3 mg/l

+ Độ trong từ 20-40 cm

+ Nước ngọt hoặc lợ nhẹ (độ mặn từ 0 đến 7%).

- Chủ động trong việc cấp và tháo nước.

2. Chuẩn bị ao nuôi:

Việc chuẩn bị ao nuôi có ý nghĩa quyết định đến kết quả nuôi. Nếu chuẩn bị ao đúng kỹ thuật thì mầm bệnh khó có cơ hội phát triển và diệt hết cá tạp, cá dữ. Chuẩn bị ao nuôi gồm các công việc sau:

- Tẩy dọn ao: Sau khi tháo cạn nước, dùng vôi nông nghiệp CaCO3) rãi đều khắp đáy ao với lượng 7 -10 kg/100 m2. Nếu vùng đất nhiễm phèn, có thể bón vôi từ 10-15 kg/100 m2.

- Ngay sau khi bón vôi, sử dụng sản phẩm chuyên dùng để thúc đẩy việc phân huỷ vật chất hữu cơ và khử khí độc ở đáy ao để tạo môi trường sống tốt nhất cho cá lăng như XORBS với liều 0,5 – 0,7 kg/1.000 m2 ao.

- Phơi nắng ao từ 1- 2 ngày rồi khử trùng ao bằng một trong hai loại sản phẩm sau đây:

+ FIDIS: Lọc nước cho vào ao khoảng 10 cm rồi dùng FIDIS với liều từ 2 đến 2,5 lít/1.000 m2 phun đều khắp mặt nước và bờ ao. Một ngày sau đó lọc nước thật kỹ cho vào ao theo yêu cầu.

+ WPLMIDTM: Liều 0,3 kg/1.000 m3. Lọc nước cho vào ao rồi phun WOLMIDTM theo liều như trên. Từ 2-3 ngày sau mới thả cá giống.

3. Thả cá giống

- Tiêu chuẩn cá thả nuôi:

+ Khoẻ mạnh, không sây sát, mất nhớt;

+ Cỡ cá thả đồng đều và lớn (cá lồng 10);

+ Mật độ thả:

+Nuôi thâm canh: 7-8 con/m3 nước;

+ Nuôi bán thâm canh: Mật độ thả từ 4-5 con/m3 nước theo tỷ lệ:

+ Cá giống các loại: 70 -80 %

+ Cá giống lăng vàng; 20-30%

- Thời gian thả cá: tốt nhất buổi sáng ( 8-11 giờ sáng).

- Sát trùng cá trước khi thả bằng BROOTTM 5X với liều 3ppm (3cc BROOT/m3). Hoà tan BROOT vào thau nước theo liều trên rồi nhúng vợt có cá vào thau khoảng 5 giây.

- Ngay sau đó, thả cá vào ao nuôi. Không nên thả cá giống nhiều lần trong cùng một ao.

4.Thức ăn cho cá:

- Có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên hoặc thức ăn tự chế phụ thuộc vào hình thức nuôi.

+ Nuôi thâm canh:

Cho cá ăn bằng thức ăn viên có độ đạm ít nhất 25%.

Khẩu phần ăn 2-5% tổng trọng lượng cá nuôi

Một ngày cho ăn ba lần (sáng, chiều, tối). Cữ tối chiếm khoảng 60% tổng lượng thức ăn trong ngày.

+ Nuôi bán thâm canh (ghép với loại cá khác):

Cho cá ăn bằng thức ăn tự chế (tận dụng nguyên liệu tại chỗ).

Khẩu phần ăn 2-4% tổng lượng cá trong ao.

Một ngày cho ăn hai lần (sáng và chiều)

Thả cá rô phi GIFT thường, tép, cá tạp để chúng sinh sản nhằm làm mồi cho cá lăng vàng.

Nguồn: Trại Thực nghiệm Thủy sản, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm T.p Hồ Chí Minh

Cho cá lăng vàng (Mystus nemurus) đẻ quanh năm

Thay vì thời gian có khả năng sinh sản chỉ khoảng 2-3 tháng/năm ở môi trường tự nhiên, giờ đây cá lăng vàng - Mystus nemurus - có thể “khai hoa nở nhụy” quanh năm... Thành công này nhờ bàn tay khéo léo của thạc sĩ Ngô Văn Ngọc (khoa thủy sản ĐH Nông lâm TP.HCM). Kết quả này cũng xứng đáng được trao huy chương vàng tại chợ công nghệ thiết bị quốc gia 2003...

Có lẽ vì gắn bó nhiều năm với nghề nuôi trồng thủy sản nên thạc sĩ Ngọc rất am hiểu nhu cầu thực tiễn và triển vọng của nhiều loài thủy sản nước ngọt. Và cá lăng vàng là một trong những đối tượng nghiên cứu được nhà khoa học này đánh dấu ưu tiên. Ông cho biết đây là loài cá trơn, giá trị kinh tế cao, thịt trắng, thơm ngon và đặc biệt loài cá này vốn là món khoái khẩu của biết bao thực khách sành ăn uống.

Cũng chính vì sự ưa chuộng của rất nhiều người, thêm vào đó bán được giá cao (35.000-45.000 đồng/kg), mà số lượng loài cá lăng vàng ở sông, suối, ao hồ... ngày một cạn dần, thậm chí đứng trước nguy cơ tuyệt diệt. Làm thế nào để bảo vệ loài cá này trong môi trường tự nhiên? Trước hoàn cảnh như thế, dường như không có lựa chọn nào khác hơn hướng nghiên cứu nhắm đến việc “sinh sản nhân tạo cá lăng vàng” - một lựa chọn mà nhiều nhà khoa học đã gặt hái thành công đối với nhiêu loài thủy sản nước ngọt khác.

Ngay lập tức mục tiêu của hướng nghiên cứu này được thạc sĩ Ngọc xác lập: tạo giống cá lăng vàng nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi và bảo vệ loài cá này ngoài tự nhiên; đồng thời xây dựng qui trình sản xuất con giống, đáp ứng nhu cầu nuôi cá thương phẩm đối với người dân.

Thời điểm tháng 3-2002, khuôn viên trại thực nghiệm thủy sản - ĐH Nông lâm TP.HCM rộn ràng công tác chuẩn bị “sinh sản nhân tạo cá lăng vàng”. Bước đầu tiên - thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ - của qui trình này được triển khai thực hiện. Loạt cá lăng vàng (bố mẹ) đầu tiên gồm 300 cá cái và 200 cá đực được đưa về từ hồ Sông Mây và Trị An (tỉnh Đồng Nai) để thuần dưỡng trong ao đất. Khá nghiêm ngặt, cá được chọn làm bố mẹ phải qua vòng sơ khảo về “ngoại hình”: không dị tật, ngoại hình cân đối, trọng lượng từ 300g/con trở lên...

Việc thuần dưỡng được thực hiện từng bước, từng bước một. Trong thời gian đầu thức ăn cho cá lăng vàng gồm 50% cá tạp tươi sống, 50% cám gạo. Đồng thời tập cho cá dùng thức ăn dạng viên nổi để cá dần quen với thức ăn công nghiệp; đến lúc thích hợp thì chuyển hẳn sang nuôi vỗ bằng 100% thức ăn công nghiệp. Cá đực và cái được sống chung một ao, với diện tích phù hợp, độ sâu 1,2-1,4m. Cứ định kỳ bảy ngày kiểm tra tốc độ tăng trưởng một lần. Và chỉ khoảng bốn tháng nuôi vỗ cá cái đã thành thục sinh dục và có thể tiêm kích dục tố để chúng sinh sản; cá đực cũng được thuần dưỡng tương tự.

Sau khi tiêm kích dục tố cho cá đẻ, trứng được ấp ở nhiệt độ trung bình 29-30OC trong bể composite (hoặc bình weis) liên tục 20 giờ liền thì trứng nở thành cá bột, tỉ lệ nở đạt trên 80%. Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu cho thấy sức sinh sản thực tế của cá lăng vàng dao động từ 126.364-142.000 trứng/1kg cá mẹ. Kết quả sản xuất cá giống trong thực tế cho thấy cứ 1kg cá mẹ thì có thể sản xuất được 10.000-15.000 cá giống. Qui trình sản xuất con giống cá lăng vàng do thạc sĩ Ngọc công bố có thể sản xuất và cung cấp giống quanh năm.

Theo kết quả nghiên cứu, một năm có thể cho cá lăng vàng đẻ 4-5 lần (giữa hai lần sinh sản cách nhau 2,5-3 tháng). Tuy nhiên để giữ sức cho cá bố mẹ chỉ nên cho đẻ khoảng 2 lần/năm là vừa. Chưa dừng lại, công trình nghiên cứu còn bố trí các thí nghiệm để đúc kết ra qui trình nuôi ương cá bột thành cá giống. Theo đó, chỉ cần chăm sóc cẩn thận trong một tháng cá bột sẽ phát triển thành cá giống với chiều dài đạt 5-5,5cm, có thể thả nuôi làm cá thịt.

Chắc chắn kết quả nghiên cứu sẽ rất có ý nghĩa nếu qui trình sản xuất giống cá lăng vàng bằng phương pháp sinh sản nhân tạo được chuyển giao đến tay nhiều nông dân, ở nhiều địa phương trên khắp đất nước.

“Chúng tôi đã sẵn sàng chuyển giao qui trình sản xuất giống và nuôi cá lăng vàng cho những đơn vị, cá nhân có nhu cầu”- thạc sĩ Ngọc vui vẻ thông báo.

QUỐC THANH (Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ Quốc gia)

___________________________________________

Cho cá lăng vàng sinh sản nhân tạo thành công: Bảo vệ được loài cá có giá trị kinh tế cao

Cá lăng vàng có tên khoa học Mytusnemurus, là loài cá bản địa được phân bố, rộng trong các thủy vực nước ngọt và nước lợ nhạt như sông, suối, ao, hồ vùng cửa sông thuộc vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Là một loài cá trơn cho thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao (với giá thịt tươi sống 30.000 - 36.000 đồng/kg), cá lăng vàng bị khai thác quá mức nên sản lượng suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên...

Đứng trước tình hình đó, thạc sĩ Ngô Văn Ngọc và nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Thủy sản Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu cho cá lăng vàng sinh sản nhân tạo và ương nuôi thành cá giống nhằm góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững. Đến nay, công trình nghiên cứu này đã thành công tại trại thực nghiệm thủy sản của Trường Đại học Nông Lâm. Về sinh sản nhân tạo, theo thạc sĩ Ngô Văn Ngọc, các công đoạn được tiến hành như sau: Cá lăng vàng hậu bị thu từ hồ Trị An (huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) được nuôi vỗ trong ao đất có diện tích 300m2 với độ sâu mực nước 1,2m, trong 5 tháng. Sau khi thành thục sinh dục, cá bố mẹ được chọn cho đẻ dựa vào các tiêu chuẩn ngoại hình và màu sắc, kích thước trứng. Trong đợt sinh sản này, 3 con cá cái được chọn cho sinh sản có trọng lượng từ 0,35kg đến 0,8kg/con. Chất dùng kích thích sinh sản cho cá lăng vàng là LH-RHa với liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 liều của cá cái. Ở nhiệt độ nước 29,5 - 30oC, thời gian hiệu ứng của LH-RHa trên cá dao động 11 - 12 giờ và tỷ lệ cá rụng trứng hoàn toàn đạt 100%. Sức sinh sản thực tế từ 126.364 - 142.000 trứng/kg.

Sau khi gieo tinh, trứng được khử dính và ấp bằng bình Weis. Ở nhiệt độ nước 30oC, thời gian phát triển phôi cá lăng vàng là 20 giờ tính từ lúc trứng đã được thụ tinh. Cá bột 1 ngày tuổi bắt đầu biết bơi. Ở khâu ương nuôi từ cá bột lên cá hương, với nhiệt độ nước 29,5 - 30oC, sau khi nở khoảng 60 giờ, ấu trùng cá lăng vàng bắt đầu biết ăn Moina cỡ nhỏ, dù lúc này cơ thể vẫn còn noãn hoàng. Sau khi nở 72 giờ (3 ngày tuổi), cá đã tiêu hết noãn hoàng và bắt mồi rất mạnh. Khi được 4 ngày tuổi, cá ăn được trùn chỉ (Tubifex). Ở giai đoạn này, cá lăng vàng có tốc độ tăng trưởng khá nhanh và sự phân đàn không đáng kể (kích thước cá hương khá đồng đều): 14 ngày tuổi, cá có chiều dài 2,7 - 2,9cm. Qua kết quả thu được trong đợt nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo này, có thể khẳng định cá lăng vàng là một đối tượng nuôi quan trọng vì có sức sinh sản cao, ăn tạp, có thể nuôi mật độ dày và tăng trưởng nhanh.

Thạc sĩ Ngô Văn Ngọc cho biết nhóm nghiên cứu đang tiếp tục nâng cao hiệu quả sinh sản hơn nữa, hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo cá lăng vàng và quy trình nuôi cá thương phẩm nhằm nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần bảo vệ và phát triển loài cá bản địa có giá trị kinh tế cao này.

Theo SGGP - 05 (/12/2002)

__________________________________________

Lưu ý khi ương nuôi cá lăng vàng

Sau một thời gian nghiên cứu, thử nghiệm ương nuôi giống cá lăng vàng, khoa Thuỷ sản (Trường Đại học Nông lâm TP.Hồ Chí Minh đã đưa ra được quy trình nuôi, thuần dưỡng giống này. Theo những kinh nghiệm đúc kết thì:

- Trong quá trình ương nuôi cá bột lên cá giống (chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn đầu 7 ngày tuổi, giai đoạn sau 30 ngày tuổi) muốn sản xuất giống hàng loạt, phải áp dụng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo với điều kiện đàn cá đực có chất lượng tuyến sinh dục cao (cá phải 2-5 năm tuổi); với cá lăng vàng cái trong điều kiện nuôi ao, giai đoạn thành thục phải là 1 năm.

- Giống cá lăng vàng ương trong ao đất luôn luôn lớn nhanh hơn cá ương trong bể vì môi trường ao đất rộng rãi, phù hợp. Cá ít bị bệnh. Cá quen ăn thức ăn viên.

- Nên thực hiện gieo tinh nhân tạo và sinh sản nhân tạo ở nhiệt độ 28-31oC thì thời gian hiệu ứng chỉ chừng 5-6 giờ và phát triển phôi từ 18-22 giờ.

- Tốc độ tăng trưởng của cá ương trong ao đất nhanh hơn.

- Tỉ lệ cá sống khi ương trong bể composit cao hơn trong ao đất (68% so với 52%) nhưng mức độ rủi ro bệnh tật khi ương lại cao hơn, có khi cá bị chết toàn bộ nếu sơ sẩy về kỹ thuật một chút.

Khoa Thuỷ sản (Trường Đại học Nông lâm TP.Hồ Chí Minh) có thể cung cấp giống cá lăng vàng và hướng dẫn quy trình ương nuôi, thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ theo yêu cầu của bà con nông dân.

NTNN, 7/7/2004

____________________________________________

Nhân giống và nuôi cá lăng thương phẩm

Cá lăng vàng có tên khoa học Mytusnemurus, sống trong các vùng nước ngọt và nước lợ thuộc vùng Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Là một loài cá da trơn cho thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao, trong những năm gần đây cá lăng vàng bị khai thác quá mức nên sản lượng suy giảm nghiêm trọng trong tự nhiên. Hiện nay, với thành công về lai tạo giống, việc nuôi cá thương phẩm đang tiến triển rất tốt.

Gắn bó nhiều năm với nghề nuôi trồng thủy sản nên thạc sĩ Ngô Văn Ngọc (Khoa Thủy sản Trường Đại học Nông Lâm TPHCM) rất am hiểu nhu cầu thực tế và triển vọng của nhiều loài cá nước ngọt. Cá lăng là loại cá ngon thịt, giá cao mà lại “trên bờ tuyệt chủng” là một trong những đối tượng nghiên cứu được thạc sĩ Ngọc ưu tiên. Sau cả năm trời lùng mua cá lăng về để nghiên cứu, nhân giống, thạc sĩ Ngô Văn Ngọc và nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Thủy sản Trường ĐH Nông Lâm TPHCM đã hoàn thành đề tài khoa học nghiên cứu cho cá lăng vàng sinh sản nhân tạo và ương nuôi thành cá giống nhằm góp phần thúc đẩy nghề nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững.

Quy trình sinh sản nhân tạo cá lăng vàng có thể tóm tắt như sau: bắt cá từ hồ Trị An (huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai) về nuôi vỗ trong ao đất có diện tích 400m2 với độ sâu mực nước 1,2m, trong 5 tháng. 3 con cá cái được chọn cho sinh sản có trọng lượng từ 0,35kg đến 0,8kg/con. Dùng chất LH-RHa tiêm vào cá đực với liều lượng bằng 1/3 liều của cá cái. Ở nhiệt độ nước khoảng 300C, thời gian dao động 11-12 giờ, tỷ lệ cá rụng trứng đạt 98%. Sức sinh sản thực tế từ 126.364 đến 142.000 trứng/kg. Sau khi gieo tinh, trứng được khử dính và ấp bằng bình Weis. Ở nhiệt độ nước 300C, thời gian phát triển phôi cá lăng vàng là 20 giờ tính từ lúc trứng đã được thụ tinh. Ở khâu ương nuôi từ cá bột lên cá hương, sau khi nở khoảng 60 giờ, ấu trùng cá lăng vàng bắt đầu biết ăn. Sau khi nở 72 giờ (3 ngày tuổi), cá ăn mồi rất mạnh. Khi được 4 ngày tuổi, cá ăn được trùn chỉ. 14 ngày tuổi, cá có chiều dài 2,7 - 2,9cm. 

Hiện nay quy trình sản xuất giống nhân tạo cá lăng nha được hoàn chỉnh và trại thực nghiệm thủy sản ĐH Nông Lâm TPHCM có thể chuyển giao cho bà con hay các cơ sở kinh doanh giống có nhu cầu. Ngoài ra, nơi nghiên cứu này cũng có thể chuyển giao quy trình sản xuất giống cá lăng vàng và cá lăng hầm. 

Cá lăng có khả năng thích nghi môi trường nước lợ, ngọt và cho hiệu quả kinh tế cao. Hiện phong trào nuôi loài cá này đang phát triển mạnh tại các tỉnh ĐBSCL, vùng Đông Nam bộ và có thị trường tiêu thụ thuận lợi. Cuối năm 2006, tại huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai lần đầu tiên xuất “chuồng” 10 ngàn tấn cá thương phẩm trị giá hàng tỷ đồng. 

Sau 5 tháng triển khai, thạc sĩ Ngô Văn Ngọc và Khoa Thủy sản, Trường ĐH Nông Lâm TPHCM đã chuyển giao thành công quy trình sản xuất cá lăng nha cho Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản An Giang. Bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và sản xuất giống thủy sản An Giang, cho biết, hiện nay, trung tâm đã chuyển giao cho bà con nông dân xuống giống nuôi thử nghiệm 100 ngàn con cá (cá cỡ từ 5-6cm) thương phẩm. Những con giống này có chất lượng và thích nghi rất tốt trong điều kiện nuôi ao và nuôi bè tại An Giang. Có thể khẳng định cá lăng vàng có sức sinh sản cao, ăn tạp, có thể nuôi mật độ dày và tăng trưởng nhanh. Theo bà, đợt này nuôi thành công với giá 83.000-85.000 đồng/kg, sắp tới trung tâm sẽ triển khai nuôi đại trà trong dân.

VŨ HÙNG - SGGP, 07/02/2007


nguồn 

http://www.khuyennongvn.gov.vn

http://www.vietlinh.com.vn


 

Kỹ thuật nuôi cá măng

Đặc điểm sinh học

1. Vị trí phân loại và hình thái cấu tạo

Cá chẽm còn gọi là măng sữa, có tên tiếng Anh là milkfish.

Cá măng có thân dài và dẹp bên, đầu to, vừa, mõm tù và tròn, màng mỡ mắt dày, che kính mắt. Lỗ mũi cách xa nhau, miệng nhỏ ở phía trước, không có răng, không có râu. Hàm trên hơi thô. Khe mang rộng vừa phải. Màng nấp mang rời nhau và tách rời ức, lược mang nhiều, nhỏ.

Cá có vẫy tròn, khó rụng, gốc vi lưng và vi hậu môn có vảy bẹ, gốc vi ngực và vi bụng có vảy nách, gốc vây đuôi có 2 vẩy đuôi dài, vẩy đường bên phát triển. Cá có 1 vây lưng, vây ngực thấp, vây bụng nhỏ, vây đuôi rộng chia 2 thùy sâu. Lưng có màu xanh lục, lường và bụng có màu trắng, mép vây lưng vây hậu môn và vây đuôi đều có viềng đen, vây ngực và vây bụng đen ở gốc. Chiều dài thân cá không kể đuôi gấp 3.5 lần chiều cao thân.

2. Đặc điểm phân bố

Cá chẽm còn gọi là măng sữa, có tên tiếng Anh là milkfish. (Ảnh: stir.ac.uk)

Cá măng là loài cá rộng nhiệt, phân bố khắp vùng biển nhiệt đới, và á nhiệt đới, từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. ở nước ta, cá phân bố ở phía đông vịnh bắc bộ và vùng biển trung bộ (Khánh Hòa đến Thuận Hải) cá lớn nhanh ở nhiệt độ 28- 30oC, nhiệt độ dưới 15oC cá phải được trú đông.
Cá măng rất rộng muối, cá trưởng thành và sống ngoài khơi, ấu trùng sau khi nở sẽ di chuyển vào bờ, và lớn lên ở vùng đầm, cửa sông nước lợ hay có thể vào sâu trong sông hồ nước ngọt, cá có thể chịu được độ mặn tới 158%o, tuy nhiên trên 45%o cá sẽ chậm lớn, độ mặn tốt nhất cho sự tăng trưởng là 27- 28%o.

3. Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

Trong tự nhiên, cá măng chủ yếu là ăn phiêu sinh thực. Vì thế cá cũng có cấu trúc mang với rất nhiều lược mang có tác dụng lọc và tập trung thức ăn. Tuy nhiên, cá con rất ít ăn phiêu sinh thực vật, phần lớn là mùn bã hữu cơ và các chất vẩn trong nước hay đáy thủy vực (Banno, 1980). Cá có tập tính ăn ban ngày và cao điểm vào lúc 7 giờ và 13 giờ (Banno, 1980) .Trong phòng thí nghiệm, cá con không ăn vào ban đêm, nhưng dần dần ăn được vào ban đêm khi thành cá giống. Tuy nhiên cá lớn chủ yếu vẫn ăn vào ban ngày, cá bắt đầu ăn bên ngoài từ ngày thứ 3 sau khi nở, khi đã hết noãn hoàng và giai đoạn 4- 7 ngày tuổi là giai đoạn nguy kịch cho ấu trùng.

Sau 3 tuần tuổi, cá măng có đặc tính ăn các loại lab-lab bao gồm các loại tảo lam, tảo lục, tảo khuê, giáp xác, ấu trùng côn trùng, giun đất và các chất vẩn, chủ yếu là: Spirulina, Microcoleus, Anthrospira, Lynbia, Anabaena, Oscillatoria, Nitzschia, Navicula, Amphiprora. Lumut mà chủ yếu là to lục dạng sợi như: Chaetomorpha, Cladophora, Enteromorpha cũng là thức ăn cho cá trong giai đoạn cá lớn, tuy nhiên không tốt cho dinh dưỡng như lab-lab.

Oscillatoria - một loại thức ăn cho cá măng sau 3 tuần tuổi (Ảnh: stcsc.edu)

Ngoài ra trong điều kiện nuôi cá măng, cá cũng có thể thích nghi và sử dụng tốt các thức ăn nhân tạo.
Cá măng là loài có kích cỡ trung bình, cỡ khai thác thông thường 2- 3 kg, cỡ tối đa bắt gặp có thể 13 kg, cá có tốc độ lớn khá nhanh, trong điều kiện tự nhiên, 10- 14 ngày sau khi nở cá đạt 2.5- 3 cm, khi có nhiều lab-lab cá có thể đạt 0.3- 0.4 kg sau 4 tháng nuôi.

4. Đặc điểm sinh sản

Tùy từng vùng nuôi với điều kiện tự nhiên khác nhau, tuổi thành thục của cá măng cũng khác nhau. Cá cái thông thường thành thục ở 5-6 năm tuổi, cá đực ở 4 năm tuổi. Kích cỡ cá đực khi thành thục dài khoảng 0.9m, cá cái khoảng 1m, trọng lượng 2-3kg. Trong điều kiện thí nghiệm, cá nuôi vỗ trong bè ngoài biển sẽ thành thục sớm hơn cá nuôi trong ao hay bể. Khi còn nhỏ rất khó phân biệt cá đực và cá cái. Khi thành thục có thể phân biệt dựa vào các lỗ niệu sinh dục và hậu môn: cá cái có 3 lỗ, cá đực có 2 lỗ.

Mùa vụ sinh sản của cá bắt đầu từ khoảng tháng 4-5. Mùa vụ sinh sản có thể kéo dài và có thể đẻ nhiều lần trong năm. Đến mùa sinh sản, cá di cư ra vùng biển để bắt cặp và đẻ trứng. Bãi đẻ của cá là những rạng san hô, có độ sâu 20-40m, xa bờ 20 hải lý. Bãi đẻ có nhiệt độ và độ mặn ổn định ở 28oC và 34%o. Cá thường di cư sinh sản vào những kỳ trăng non, lúc nước cường. Cá đẻ vào ban đêm. Trước khi đẻ, chúng ghép đôi với tỷ lệ 1 cá cái và 2 cá đực. Sự kích thích liên tục của 2 cá đực làm cá cái đẻ rốc.

Kỹ thuật nuôi cá măng

1. Ương cá giống trong ao đất

Tùy điều kiện ương nuôi mà qui mô ao ương nuôi có thể thay đổi. Tuy nhiên, hệ thống ương nuôi thường có ao ương chiếm 4-10%, ao chuyển 6%, còn lại là ao thịt. Đề có nơi cho cá trú ẩn và thuận tiện cho thu hoạch, ao đầm nuôi cần thiết kế kinh mương bao rộng 2-5m, sâu 0.75m.

Trước khi ương nuôi, chuẩn bị ao thật kỹ là khâu rất quan trọng quyết định đến tỷ lệ sống và năng suất. Trong việc chuẩn bị ao, vấn đề quan trọng là phi tạo được lớp lab-lab, lumut và phiêu sinh vật cho cá. Các bước như sau:

a. Tạo lab-lab

Rải phân chuồng khắp đáy ao, đầm với liều lượng 500-2.000kg/ha tùy ao đầm cũ hay mới. Cho nước vào 5cm, sau đó phơi khô. Cho nước vào tiếp 7.5-10 cm. Bón phân 16-20-0 với lượng 100kg/ha hay 18-46-0 với lượng 50kg/ha. Mỗi ngày thêm 5cm nước, sau đó làm đầy đến mức mong muốn như 20-30cm đối với ao ương, 30-40cm đối với ao chuyển, 40-50 cm đối với ao thịt.

Để duy trì sự phát triển liên tục của lab-lab trong ao đầm, sau mỗi 7-10 ngày, bón 15kg phân (16-20-0) /ha. Trước khi thu hoạch 20 ngày nên ngừng bón phân. Đáy ao cứng và nước mặn 25-32%o là điều kiện tốt để tạo lab-lab.

b. Tạo phiêu sinh vật

Phương pháp gây màu nước tạo phiêu sinh vật không giống như phương pháp tạo lab-lab do yêu cầu mức nước sâu hơn và thường vào mùa mưa trong khi tạo lab-lab vào mùa nắng. Các bước như (i) tháo cạn nước, sau đó thêm đầy trong vòng 24 giờ; (ii) thêm nước đến độ sâu 60cm; (iii) bón phân vô cơ với lượng 22kg(18-46-0) /ha; 50kg (16-20-0)/ha; hay 25kg (16-20-0) cùng với 25kg (0-20-0)/ha; (iv) sau khi bón phân 1 tuần thì th giống; và (v) mỗi tuần bón với liều lượng trên để duy trì độ trong 20-30cm. Ngừng bón phân 2 tuần trước khi thu hoạch.

Sau khi chuẩn bị ao, bắt đầu thả giống. Mật độ thích hợp cho nuôi thịt là 1.000-3.000 con/ha. Đối với ao ương, mật độ th là 30-50 con/m2. Các th cũng tương tự như các loài tôm cá khác. Ngoài ra, cũng có thể th ghép cá măng với tôm trong đầm nuôi tôm với mật độ 5.000-1.000 tôm/ha và 1.000-3.000 cá măng/ha hay 1000 con cua biển và 2.000 cá măng/ha.

c. Chăm sóc và quản lý

Quản lý chất lượng nước trong điều kiện thích hợp là yếu tố quyết định đến sự thành công của việc nuôi. Nồng độ muối có thể tăng cao do mức nước thấp và khi độ mặn trên 60%o sẽ gây sốc cho cá. Do đó, cần chủ động cấp nước kịp thời.

Trong những ngày mưa hay trời mát kéo dài, lab-lab có thể bị chết và dẫn đến thiếu oxy, do đó cần có biện pháp xử lý khi cần thiết như thay nước, sục khí..

Ngoài thức ăn chủ yếu là lab-lab, trong quá trình ương nuôi cũng cấn có bổ sung thêm cám gạo, bột mì, với tỉ lệ 4-10% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn 2 lần trong ngày sáng và chiều. Thường cho ăn bổ sung là để vỗ béo cá trước khi thu hoạch.

Khi nuôi hỗn hợp với cua cần rào chắn cẩn thận để tránh thất thoát.

2. Nuôi cá trong lồng

Nghề nuôi cá Măng trong lồng đã đạt thành công từ nhiều thế kỷ nay trên nhiều nơi và đã và đang hứa hẹn nhiều triển vọng.

Cũng như các hình thức nuôi lồng khác, chọn vị trí thích hợp là bước khởi sự quan trong và cần đảm bảo ít sóng gió, có dòng nước chảy vừa phải, tráng nơi rác bèo trôi dạt, đáy đấy sét pha thịt và sâu ít nhất 1.5m.

Khu nuôi được rào bằng khung, cọc tre và nhiều lớp lưới với cỡ mắt thích hợp. Diện tích ương khoảng 10% tổng diện tích ương nuôi.

Mật độ cá giống thả khoảng 20.000-30.000 con/ha với kích cỡ cá thích hợp là 6-7 cm. Sau khi ương khoảng 2 tháng, cá đạt 12.5 cm thì chuyển đến khu nuôi thịt. Trong giai đoạn ương, bổ sung cám gạo 2 lần mỗi ngày với tỉ lệ 5% trong lượng thân cá. Trong thời gian nuôi thịt, không cần thiết cho cá ăn trừ khi vào những tháng trời lạnh hay hai tuần trước khi thu hoạch để vỗ béo cá.

Sau tám tháng đến một năm, cá đạt 500- 800g thì có thể thu hoạch. Phương pháp thu hoạch có thể là lưới vây hay lưới rê.

Theo Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
_________________________________________________________________

Sông Cầu (Phú Yên): Nuôi cá măng xen canh trong ao tôm cho kết quả khả quan

Phòng Kinh tế huyện Sông Cầu vừa phối hợp với UBND các xã, thị trấn khảo sát xác định vùng mặt nước nuôi trồng thủy sản để lập quy hoạch chi tiết và xác định vùng ao, đìa tôm chân trắng tập trung nuôi. Theo kết quả sơ bộ của đợt khảo sát, đã xác định được 6 vùng mặt nước nuôi trồng thủy sản để lập quy hoạch chi tiết nuôi tôm chân trắng tại 5 xã: Xuân Thọ 1, Xuân Thọ 2, Xuân Cảnh, Xuân Thịnh, Xuân Phương và thị trấn Sông Cầu. Tại Tuy An, sau 4 tháng thả nuôi thử nghiệm, hiệu quả kinh tế từ 2 mô hình nuôi cá măng xen canh trong ao tôm ở xã An Hiệp và An Ninh Tây đã đem lại kết quả khả quan. Trên diện tích 3.000m2 của 2 ao tôm, người ta thả 6.000 cá măng giống, kích thước thân dài 6cm.
Sau 4 tháng, cá đã phát triển khá nhanh, đạt trọng lượng 0,4-0,5 kg/con, tỉ lệ sống trên 92%, không bị dịch bệnh. Trừ mọi khoản chi phí, 2 mô hình nuôi cá măng xen canh trong ao tôm ở huyện Tuy An đã cho lãi hơn 30 triệu đồng.

(Theo vasep.com)
______________________

Cá măng: giống nuôi mới 

Cá măng là một trong những loài cá biển nuôi truyền thống rất quan trọng ở các nước Đông Nam Á và một số nước ven biển Thái Bình Dương, Trung Mỹ… Cá măng có tên khoa học là Chanos chanos (Forskal, 1775) là loài duy nhất trong họ Chanidae, loài này có tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, ít bị bệnh, chi phí đầu tư không cao, phù hợp với nông dân vùng nông thôn ven biển ít vốn. 
Đây là loại cá biển được xếp vào hàng những loài cá quý, thịt thơm ngon, được người tiêu dùng ưa thích có giá trị xuất khẩu cao. Ở Việt Nam cá măng phân bố tự nhiên nhiều ở các tỉnh ven biển miền Trung như: Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, người ta đã khai thác nguồn giống tự nhiên để nuôi nên chưa phổ biến. Thức ăn chủ yếu của cá măng là các phiêu sinh vật, mùn bã hữu cơ, tảo, rong câu. 

Cá măng là đối tượng sống trong các ao đầm nước lợ, có khả năng nuôi quảng canh với mật độ từ 1.500-3.000 con/ha, nuôi bán thâm canh với mật độ nuôi 8.000 con/ha và nuôi thâm canh với mật độ 20.000 con/ha. Đặc biệt chúng có thể nuôi ghép trong các ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh để làm sạch môi trường và giảm rủi ro về bệnh cho tôm nuôi; chúng sống và sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ 25- 35oC, độ mặn 29 – 34%o. 

Cá măng trưởng thành có chiều dài 50–150cm, trọng lượng 5-18kg, cá có thể sống đến 20 năm. Mùa vụ sinh sản của cá măng bố mẹ thường đẻ vào thời kỳ trăng tròn và trăng non, vào lúc nửa đêm. Mỗi năm cá có thể đẻ 3-4 lần, cá có trọng lượng 3-14kg có thể đẻ 0,5-6 triệu trứng/cá thể. 

Trên thị trường cá măng thành phẩm có giá dao động từ 20-25 triệu đồng/tấn, cá măng giống có giá khoảng 1.000-2.000 đồng/con. Để từng bước chủ động tạo ra nguồn cá giống lớn, đưa loài cá này trở thành đối tượng nuôi kinh tế cho các vùng nước ven bờ và nuôi lồng bè trên biển, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2 – Trường Đại học Nha Trang với sự giúp đỡ của chuyên gia Philippines đã tiến hành cho sinh sản nhân tạo thành công giống cá măng biển, và đang tiếp tục nghiên cứu công nghệ ương giống và công nghệ nuôi nuôi cá măng biển thương phẩm để hoàn thành quy trình sản xuất. 

Dự kiến đến tháng 6/2009 sẽ hoàn thành và đưa vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng chủ trương của Bộ Nông nghiệp & PTNT là từng bước đa dạng hóa đối tượng nuôi biển, chuyển dịch cơ cấu ngành nuôi trồng thủy sản, phấn đấu năm 2010 đạt sản lượng về nuôi cá biển là 200.000 tấn.

Trần Nga (Theo KTNT/NNVN)


Nuôi cá nàng hai ở đồng bằng sông Cửu Long

Cá nàng hai (hay còn gọi là thát lát cườm, cá đao, cá cườm) là loại cá quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và là loại cá nuôi mới, chưa phổ biến (trừ tỉnh Hậu Giang đã có thương hiệu riêng). Cá nàng hai trong tự nhiên thường sống ở vùng kênh, rạch, ao đầm, ruộng trũng có thể chịu được nước có lượng oxy thấp, vì nó có cơ quan hô hấp phụ. Trong điều kiện tự nhiên, cá thường sống ở vùng tầng giữa và đáy của mực nước. Cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn, nước trung tính có độ pH từ 6,5 - 7, nhiệt độ thích hợp 26 - 28 độ C, tuổi thọ trên 10 năm tuổi và kích thước có thể trên 90 cm. Mùa nước lớn cá đi vào đồng ruộng ngập nước để sinh sống, mùa khô cá ra sông rạch lớn, các vực nước sâu để sống.


Chuẩn bị ao nuôi: 

Ao nuôi cá nàng hai tốt nhất là gần nguồn sông chính, nước ngọt có thể cung cấp dễ dàng. Ao cần có bờ chắc chắn, bờ ao cần cao hơn đỉnh lũ ít nhất 50 cm. Tùy ao lớn nhỏ mà đặt 2-3 ống cống để cấp và thoát nước, lấp hết các lỗ mọi quanh bờ, độ sâu nước từ 1,2-1,5 m. Nhiệt độ nước thích hợp từ 26-30 độC, pH từ 7-8,5, lượng ô xy hòa tan > 3 mg/lit

Cải tạo ao nuôi:

Trước khi nuôi cần tát cạn ao, vét hết lớp bùn đáy, diệt tạp, bón vôi với lượng 10-15 kg/100 m2, phơi khô đáy ao khoảng 1 tuần, cho nước vào từ 5-7 ngày mới thả cá giống, nước cần phải qua lưới lọc để ngăn cá tạp và cá dữ.

Chuẩn bị giống:

Con giống cần phải mua ở các trại giống có uy tín, cá con có kích thước đều, không bị sây sát. Cá khỏe tập trung thành từng nhóm, núp trong giá thể, không bơi rời rạc.

Thả cá:

Cá nên thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả cá cần ngâm bao đựng cá trong ao từ 15-20 phút để tránh cho cá khỏi bị sốc do nhiệt độ môi trường và nước ao thay đổi. Trong ao cần đặt một số giá thể cho cá trú và nên thả cá ở những vị trí này, cá mới thả thường tập trung quanh giá thể nên dễ quan sát và theo dõi. Mật độ thả từ 5-10 con/m2, có thể thả chung nuôi ghép với cá sặc rằn từ 5-10 %.

Cho cá ăn:

Cá nhỏ rửa sạch, băm nhỏ, cá tạp có thể xay nhỏ và trộn với chất kết dính từ 1-2 % để tránh thức ăn bị rã. Thức ăn cần vo thành viên, đặt vào sàn ăn để theo dõi điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày. Cho cá ăn bổ sung thức ăn viên công nghiệp. Sàn ăn cần đặt ở nơi cá hay tập trung (chà hay giá thể). Cho cá ăn 2 lần/ngày. Do cá hoạt động mạnh vào ban đêm nên buổi sáng chỉ cho ăn 1/3 khẩu phần, buổi chiều cho ăn 2/3 khẩu phần. Lượng thức ăn hàng ngày bằng 10-15 % trọng lượng cá lúc 1-3 tháng sau khi thả và 5-7 % từ 3-10 tháng sau khi nuôi.

Chăm sóc:

Tùy theo màu nước của ao mà có chế độ thay nước, lượng nước thay mỗi lần là 1/3. Thường xuyên bổ xung vitamin C và Premix cho cá. Thỉnh thoảng trộn tỏi vào thức ăn cho cá với lượng 50-100 g/10 kg thức ăn liên tục trong 3 ngày.

Cá nuôi tốt một năm có thể đạt trọng lượng 1,0-1,5 kg, khi đạt kích cỡ này có thể thu hoạch cá.

Phương Thanh
________________

Một số biện pháp cải tiến trong sản xuất giống cá nàng hai

Hiện nay, cá nàng hai có giá trị kinh tế khá cao trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Thịt cá có chất lượng tương đương cá thát lát, nhưng lại có trọng lượng lớn hơn. Cá nàng hai có nhiều chấm còn được người nuôi cá kiểng rất yêu thích. Tuy nhiên, cá nàng hai có nhược điểm là tỷ lệ sinh sản của cá rất thấp, do đó vấn đề về giống đang đặt ra. Đề tài nghiên cứu khoa học “Thử nghiệm cải tiến một số biện pháp sản xuất giống cá nàng hai quy mô nông hộ tại Long An” của Thạc sĩ Phạm Phú Hùng - Giám đốc Trung tâm Thủy sản Long An và các cộng sự đang được thực hiện, nhằm giúp người nông dân có thể tự nhân giống và nuôi cá thành công ngay tại ao nhà.

Cá nàng hai (hay còn gọi là thát lát còm, cá đao, cá cườm) là loại cá nuôi mới, chưa phổ biến. Cá có tên khoa học Notopterus chilata. Hiện nay, cá mới chỉ nuôi nhiều ở tỉnh Hậu Giang (đã có thương hiệu riêng), ở Long An và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khác, cá chưa được nuôi chưa nhiều. Từ những hộ đã nuôi cá thành công cho thấy, cá có giá trị cao trên thị trường, dễ tiêu thụ, ngoài việc cung cấp cá thịt cho thị trường trong và ngoài nước, cá nàng hai to, đẹp, có nhiều chấm còn dùng để bán cho dân chơi cá kiểng với giá cao.

Cá nàng hai trong tự nhiên thường sống ở vùng kênh, rạch, ao đầm, ruộng trũng có thể chịu được nước có lượng ôxy thấp, vì cá có cơ quan hô hấp phụ. Trong điều kiện tự nhiên, cá thường sống ở vùng tầng giữa, đáy của mực nước. Cá thích sống trong môi trường có nhiều thực vật thủy sinh lớn, mực nước thích hợp là loại nước trung tính có độ pH từ 6,5-7, nhiệt độ thích hợp 26-280c, tuổi thọ của cá trên 10 năm tuổi và có thể có kích thước trên 90cm.

Hiện tại, phương pháp sản xuất giống vẫn áp dụng biện pháp thủ công như: Vuốt trứng-tiêm kích dục tố rồi thả lại ao, cho đẻ tự nhiên. Tỷ lệ cá con sống rất thấp vì các loài thiên địch và nếu ổ bị động cá quay lại ăn luôn trứng của mình. Cá thường sinh sản vào mùa mưa và đẻ tập trung từ tháng 6-10 hàng năm. Cá có chiều dài 20cm, có sức sinh sản tối đa khoảng 1.500 trứng. Cá nàng hai trong điều kiện tự nhiên tự tái phát dục sau 7-10 tuần và có thể sinh sản 2 đến 3 lần trong mùa mưa. Cá được nuôi trong ao, hồ có thể chủ động nuôi thành thục cho sinh sản kéo dài từ tháng 2 đến tháng 11 nếu được nuôi dưỡng đúng mức và cho ăn đầy đủ chất dinh dưỡng.

Thời gian gần đây, Trại giống thủy sản Bình Cách, xã Hiệp Thạnh, huyện Châu Thành, Long An đã sản xuất thử nghiệm thành công nhân giống cá nàng hai. Tuy nhiên, trong quá trình nhân giống các kỹ sư thủy sản thấy cần phải cải tiến, hoàn thiện hơn nữa quy trình kỹ thuật để có thể sản xuất được nhiều giống chất lượng cao, từ đó có thể hướng dẫn, chuyển giao cho người nuôi cá trong tỉnh áp dụng. Vì hiện nay, số lượng giống mà Trại cá giống Bình Cách sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu cho người nuôi cá nàng hai.

Nội dung nghiên cứu của nhóm kỹ sư thủy sản thuộc Trung tâm thủy sản Long An đang tập trung vào việc kích thích sinh sản cho cá nàng hai bằng một số biện pháp khác nhau. Sự ảnh hưởng của thời gian cấp nước mới tới việc sinh sản của cá. Theo Thạc sĩ Hùng, có thể dùng các ống nước PC cắm xuống ao cho cá đẻ và nhô lên khỏi mặt nước để dễ nhận biết ổ trứng của cá. Khi cá đẻ xong, đến thời điểm thụ tinh cho trứng thì nhẹ nhàng rút các ống mủ lên, tránh làm động ổ trứng.

Ngoài ra, nội dung nghiên cứu cũng nhắm tới việc xác định một số chỉ tiêu kỹ thuật ương nuôi cá. Từ đó, đề ra các biện pháp cải tiến, hoàn thiện quy trình kỹ thuật phù hợp với quy mô nông hộ tại tỉnh Long An, theo dõi một số chỉ tiêu môi trường như, nhiệt độ, oxy, pH, độ trong...


Chương trình nghiên cứu đề tài khoa học của Thạc sĩ Hùng và các cộng sự đang được gấp rút hoàn thành. Vào tháng 10-2008, đề tài sẽ được báo cáo và nghiệm thu. Hy vọng, sau khi đề tài nghiên cứu hoàn tất và áp dụng thành công trong thực tế sẽ giải quyết được vấn đề giống trong việc nuôi cá nàng hai, mở ra một hướng mới trong việc nuôi trồng thủy sản cho nông dân. Thạc sĩ Phạm Phú Hùng chủ nhiệm đề tài cho biết, sau khi cho 3 nông hộ thực nghiệm bước đầu cho thấy có hiệu quả, tuy nhiên chưa đến giai đoạn nghiệm thu đề tài vì cá còn nhỏ. Việc nhân giống cá tại Trung tâm vẫn được tiến hành thường xuyên và đạt kết quả khả quan sau khi áp dụng một số biện pháp cải tiến. Trung bình 1 năm Trung tâm sản xuất 50.000 cá thát lát con cung cấp cho thị trường trong, ngoài tỉnh.

Công ty Việt Linh

Nuôi cá diêu hồng cho thu nhập cao

Cùng với các loại hoa quả, cây cảnh... được tạo dáng, chăm sóc kỹ để phục vụ người tiêu dùng vào dịp Tết Canh Dần, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận còn có thêm sản phẩm mới là cá diêu hồng (còn gọi là cá rô phi đỏ) đang được tiêu thụ mạnh. 


Theo tục lệ hàng năm, vào ngày 23 tháng chạp, dân ta có tập quán cúng tiễn ông Táo về trời và phóng sinh một con cá chép. Do có màu sắc, hình dáng đẹp, thịt cá thơm ngon nên ngoài việc mua về cúng ông Táo, phóng sinh, cá diêu hồng còn là “thực đơn” trong bữa ăn của nhiều gia đình trong những ngày Tết. Nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời thực hiện chương trình chuyển đổi cây trồng, con nuôi đem lại hiệu quả kinh tế trên một đơn vị canh tác, nhiều hộ gia đình ở huyện Hàm Tân (Bình Thuận) đã tham gia đầu tư nuôi cá diêu hồng và được hỗ trợ 20% về thức ăn, 40% con giống và kỹ thuật nuôi trồng của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư. Ước sản lượng vụ đầu tiên cung cấp cho thị trường vào dịp Tết năm nay khoảng vài chục tấn. 

Theo ông Đặng Ngọc Sâm ở thôn 1, xã Tân Phúc, Hàm Tân: gia đình ông thả nuôi thử nghiệm 5.000 con giống trên diện tích 1.000 m2 ao đất. Sau 6 tháng nuôi, hiện nay cá đạt bình quân 0,5 kg/con, sản lượng ước đạt hơn 17,5 tấn/ha. Cá diêu hồng dễ nuôi, ăn mùn bã hữu cơ, các loại cám, rau để bổ sung nguồn thức ăn cho cá, ông tận dụng các loại phụ phẩm chế biến từ hải sản như vỏ tôm, râu mực... nên chi phí thấp. Ông thường xuyên kiểm tra, theo dõi xử lý vệ sinh nguồn nước ao sạch để cá phát triển tốt và không bị nhiễm bệnh. Ông Sâm dự tính, với giá bán sỉ và bán lẻ dao động từ 25.000 đến hơn 30.000 đồng/kg, gia đình ông thu lãi ròng trên 12 triệu đồng. 

Mô hình nuôi cá diêu hồng đang mở ra hướng làm ăn mới, được bà con nông dân hưởng ứng. So với các loại khác như cá rô phi, cá trê..., cá diêu hồng dễ nuôi, chi phí thấp và thị trường đang tiêu thụ mạnh không chỉ vào dịp Tết.

Theo TTXVN

_______________________


Kỹ thuật nuôi cá Điêu hồng trong ao đất

Cá điêu hồng hay còn gọi là cá rô phi đỏ, kỹ thuật nuôi tương tự như nuôi các loài cá nước ngọt khác, tuy nhiên cần lưu ý các điểm cơ bản sau: 

Về đặc điểm sinh học: cá điêu hồng thích hợp với nguồn nước có độ pH: 6,2 – 7,5, khả năng chịu phèn kém nhưng có thể phát triển tốt ở vùng nước nhiễm mặn nhẹ 5 – 12%o cá sống trong mọi tầng nước. 

Cá điêu hồng ăn tạp thiên về thực vật và có thể ăn mùn bả hữu cơ, do đó nguồn thức ăn cho cá rất đa dạng, bao gồm các loại cám thực phẩm, khoai củ, ngũ cốc,... ngoài ra có thể tận dụng các nguyên liệu phụ phẩm từ các nhà máy chế biến thủy sản (nhu vỏ tôm, râu mực, đầu cá,....) hay các phấn phẩm lò giết mổ gia súc để chế biến thành các nguồn thức ăn phụ cung cấp cho cá nuôi. Mặt khác có thể chọn loài ốc bươu vàng làm nguồn thức ăn tươi sống để cho cá ăn. 

Ao nuôi: phải được thực hiện các bước cải tạo theo tuần tự như sau: bơm cạn nước, vét bùn nền đáy ao, bón vôi khử phèn độc tố tiềm tàng trong ao với liều lượng từ 10 – 15 kg/100m2, phơi ao khoảng 1 tuần rồi tiến hành cấp nước sạch vào ao qua cống có ngăn lưới ở miệng công không cho cá tạp và cá dữ vào ao nuôi. Chọn ao có diện tích từ 500 – 1.000m2, độ sâu từ 0,8 – 1,5m và phải chủ động cấp thoát nước khi cần thiết. 

Mật độ: có thể nuôi đơn cá điêu hồng trong một ao hoặc nuôi ghép với nhiều loại cá khác như: cá sặc rằn, cá chép, cá hường, cá rô phi vằn... Nếu nuôi cá điều hồng là chủ yếu: nên nuôi với mật độ từ 5 – 8 con/m2. 

Lượng thức ăn: tùy theo mức độ sử dụng của cá, trung bình bằng 5 – 7% trọng lượng cá, cần bố trí các sàn ăn trong ao để kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày, sử dụng nhiều sàn ăn để cá lớn, cá nhỏ đều được ăn. Tránh dư thừa thức ăn gây lãng phí và ô nhiễm nguồn nước, lượng thức ăn nên chia làm 2, cho ăn vào buổi sáng sớm và buổi chiều mát. Theo dõi thường xuyên tình hình nước trong ao (màu sắc, mùi vị ...). Nếu thấy nước bẩn thì cần phải thay nước sạch cho ao nuôi tránh hiện tượng thiếu oxy. 

Thu hoạch: cá nuôi khoảng 7 – 8 tháng là có thể thu hoạch được, vào thời gian này cá đạt trọng lượng từ 0,4 – 0,6kg/con, nếu được chăm sóc tốt, trong trường hợp cá lớn đều thì thu hoạch 1 lần, nếu không đều thì thu hoạch những con lớn trước, con nhỏ để lại nuôi tiếp 1 - 2 tháng sau sẽ thu hoạch tiếp.


 

Page 1 of 7

  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  6 
  •  7 
  •  Next 
  •  End 
  • »