<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!-- generator="FeedCreator 1.7.3" -->
<rss version="2.0">
	<channel>
		<title>Diepluc - Chlorophyll</title>
		<description><![CDATA[nông nghiệp Việt nam, nano technologie, công nghệ nano, nông nghiệp sạch, bio products, thiết bị diệt tảo độc, phát minh, cà phê chất lượng cao, ca cao, trái cây, obst, fertilizer, phân bón, ultraschall, ultra sound,ultra sonic aquaculure, aquakultur, organic, thiet bi diet tao doc]]></description>
		<link>http://www.diepluc.com/portal/</link>
		<lastBuildDate>Thu, 09 Sep 2010 11:50:28 +0100</lastBuildDate>
        <generator>FeedCreator 1.7.3</generator>
		<item>
			<title>Saturday, 27 February 2010 04:30  -  Cách rấm và giữ chuối tươi lâu</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=272:cach-rm-va-gi-chui-ti-lau&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="font-family: Verdana, Arial, Tohoma, sans-serif; font-size: 12px; border-collapse: collapse; color: rgb(0, 0, 128); "><div class="plain"><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><b><font class="Apple-style-span" color="#000000">Rấm chuối bằng nhiệt<br /></font></b><font class="Apple-style-span" color="#000000"><br />Là phương pháp rấm chuối truyền thống: Chuối được rấm chín bằng cách cắt rời các nải chuối khỏi buồng, xếp sấp các nải chuối ra sàn một ngày cho khô nhựa, rồi chất vào trong lu, khạp; chính giữa lu, khạp chừa chỗ cắm vài thẻ hương, rồi đậy thật kín lu, khạp lại. Nhiệt độ từ những cây hương trong lu khạp làm chuối chín sau 2- 3 ngày. Số lượng hương ít hay nhiều tuỳ nhiệt độ khí trời và khối lượng chuối trong lu, chỉ người có kinh nghiệm mới xác định đúng mức cần đốt mấy thẻ hương. </font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000"></font></p><font class="Apple-style-span" color="#000000"><div style="text-align: center; "><img mce_src="http://files.myopera.com/trinhdoan/blog/chuoi.jpg" width="500" src="http://files.myopera.com/trinhdoan/blog/chuoi.jpg" /></div><br />Vào mùa đông ở phía Bắc, nhiệt độ xuống thấp, muốn rấm chuối chín thậm chí phải xây lò rấm chuối (giống như lò quay thịt lợn) vách thường xây cuốn tròn, có nắp đậy kín và tạo ra nhiệt độ trong lò bằng cách đốt một đụn trấu cho cháy âm ỉ dưới đáy lò. Khi chuối mềm, lấy ra vỏ còn xanh xếp ra nong nia 1- 2 ngày, sau đó vỏ chuối sẽ lên màu. Một số người dùng đất đèn gói trong những vật dụng được gia cố kín, không cho khí thoát ra để làm chuối chín. <br /><br />Tuy nhiên, với cách rấm truyền thống này chuối sẽ không đẹp, ruột chuối đôi khi mềm, dễ bị rụng cuống, thối cùi... làm mất giá trị thương phẩm và không giữ được tươi lâu. <br /><br /></font><b><font class="Apple-style-span" color="#000000">Rấm chuối bằng máy ở nhiệt độ thấp </font></b><font class="Apple-style-span" color="#000000"><br />Đây là nghiên cứu của KS. Nguyễn Thanh Tùng hợp tác với Phòng Nghiên cứu sau thu hoạch của Viện Nghiên cứu cây ăn quả Miền Nam thực hiện rấm chuối chín bằng máy Ethylene Generator và bảo quản chuối ở nhiệt độ thấp nhiều ngày. <br /><br />Chuối được thu hoạch ở độ chín 3/4 (theo cách mô tả của nhà vườn), buồng chuối sẽ chín đẫy đều tất cả các nải trên buồng. Trái chuối qua giai đoạn này sắc cạnh căng da, tâm ruột trái chuối ửng vàng. Cắt nải chuối khỏi buồng bằng đục chuyên dùng, tạo các chùm chuối 5 trái bằng dao cong chuyên dùng và cho chuối ""lặn"" ngay vào thùng nước có fluor cho sạch nhựa và sát khuẩn 5-10 phút. Vớt chuối ra, để ráo ở 16- 20 độ C và cho chuối vào tủ rấm của máy Ethylene Generator. Chuối được làm mất màu xanh bằng cách cho cồn 95% vào máy, khoảng 2- 5ml/m<sup>3</sup>, chỉnh chế độ máy tạo khí ethylen thích hợp. Tủ rấm chuối dược đóng kín cửa, có quạt đối lưu giúp phân bố đều dòng khí, nhiệt dộ và độ ẩm trong tủ 90- 95% trong suốt giai đoạn làm chín. Sau 24 giờ mở cửa tủ cho thông gió lùa khí ethylen ra ngoài, chấm dứt giai đoạn rấm chín. <br /><br />Giai đoạn chuyển màu vỏ vẫn để chuối trong tủ, đóng cửa và duy trì ở mức 14 độ C và độ ẩm ở mức 80- 85% cho chuối tươi lâu. <br /><br />Ưu thế của phương pháp rấm chuối bằng máy trong nhiệt độ thấp bảo quản được lâu hơn, màu sắc đẹp, chất lượng không thay đổi.</font><p> </p></div><div><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000">Theo NTNN</font></span></font></i></p><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000"><br /></font></span></font></i></p><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000">Ghi chú: bên cạnh đó , hiện nay có các sản phẩm dùng phủ lên bên ngòai vỏ chuối, giữ chuối tươi lâu, bóng và đẹp mắt, giữ được giá trị của chuối khi bán trên thị trường. Các sản phẩm bảo quản này hòan tòan không độc hại và được chấp nhận tại các thị trường lớn như Âu Châu và Mỹ</font></span></font></i></p><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000">Mọi chi tiết xin liên lạc Công Ty Diệp Lục. </font></span></font></i></p><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000"> </font></span></font></i></p></div></span>{aicontactsafeform pf=1|use_css=1|aics_name=name|aics_subject=Bảo quản trái cây}]]></description>
			<pubDate>Sat, 27 Feb 2010 04:30:47 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Saturday, 27 February 2010 03:02  -  Anh nông dân Cao Lan sáng tạo máy tróc vỏ, thái sắn</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=269:anh-nong-dan-cao-lan-sang-to-may-troc-v-thai-sn&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="font-family: Verdana, Arial, Tohoma, sans-serif; font-size: 12px; border-collapse: collapse; color: rgb(0, 0, 128); "><div class="plain"><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Với mong muốn giảm bớt được sức lao động, anh Lâm Văn Liêm, dân tộc Cao Lan ở thôn Ruồng, xã vùng cao Đèo Gia (Lục Ngạn - Bắc Giang) đã miệt mài nghiên cứu và chế tạo thành công chiếc máy tróc vỏ và thái sắn. Máy hoạt động hiệu quả rất cao, một ngày có thể làm bằng cả 100 người lao động thủ công. <br /><br />Thoạt đầu nghe ông Chu Đức Tạy - chủ tịch Hội nông dân xã Đèo Gia giới thiệu về chiếc máy tróc vỏ và thái sắn, tôi cứ nghĩ chắc chủ nhân làm ra nó phải có bằng kỹ sư hay ít nhất cũng phải học hết Cao đẳng, nhưng thật bất ngờ đó lại là một thanh niên trẻ, người dân tộc Cao Lan, trình độ mới chỉ học đến lớp 10. <br /><br />Lâm Văn Liêm (24 tuổi) là người con thứ 2 trong gia đình thuần nông có 3 anh em. Cuộc sống từ nhỏ của Liêm đã gắn bó với nương rãy, đồi rừng. Nhà Liêm làm nhiều nương rẫy lắm, năm nào cũng trồng khoảng 8 ha sắn, có năm thu hoạch cả trăm tấn sắn tươi. Vì công việc của gia đình nhiều, anh cả thì đã lấy vợ ra ở riêng, bố mẹ đã già yếu nên học đến lớp 10, Liêm phải nghỉ học ở nhà lao động giúp đỡ gia đình. Việc trồng, chăm sóc, thu hoạch sắn rất vất vả nhưng thu hoạch về phải sơ chế (tróc vỏ, thái sắn và phơi khô) để tiêu thụ được còn gian khổ hơn. Để tróc vỏ (làm cho vỏ đen bửng bên ngoài củ sắn bong ra) và thái xong cả mấy chục tấn sắn, vụ mùa nào gia đình Liêm cũng phải lao động quần quật suốt ba tháng trời. Liêm tâm sự: “Có nhiều khi tay chân em mỏi rời rã, lưng quặn đau nhưng vẫn phải làm...!” <br /><br />Với mong muốn làm sao giải phóng được bớt sức lao động cho gia đình đỡ khổ, đầu năm 2007, Lâm Văn Liêm đã bắt tay vào nghiên cứu và chế tạo chiếc máy tróc vỏ - thái sắn. Chẳng cần bản vẽ kỹ thuật, Liêm chỉ mường tượng trong đầu chiếc máy cần có hai phần: phần 1 là lồng đựng tróc vỏ sắn phải làm sao cho bên trong gồ ghề để khi quay lồng, sắn quay theo va vào thành lồng trượt vỏ sắn ra; phần 2 là khung máy và thái sắn, phải thiết kế làm sao cho máy thái cùng lúc được nhiều củ sắn và người làm không bị đau lưng. Sự hoạt động của lồng quay tróc vỏ và máy thái sắn dựa vào lực vòng quay của mô tơ điện qua các dây tải dòng dọc. <br /><br />Vậy là Liêm bắt tay vào chế tạo máy. Ban đầu lồng tróc vỏ sắn được Liêm đóng bằng cây giàng, nhưng khi hoạt động thử thấy độ bền và hiệu quả không cao nên đổi bằng gỗ. Các thanh gỗ được đẽo theo hình chữ V và ghép lại với nhau thành hình tròn, mặt ngoài phẳng, mặt trong nhọn. Trên lồng cửa đóng mở được để đổ sắn vào và lấy sắn ra. Còn phần khung máy thái sắn, Liêm mua sắt về và thuê máy hàn để tự gia công. Sau hơn 6 tháng miệt mài lao động sáng tạo, nhiều đêm Liêm thức trắng, cuối cùng chiếc máy cũng được hoàn thành. Vụ sắn năm 2007, chiếc máy của Liêm đã phát huy hiệu quả với công suất rất cao. Chỉ cần ba lao động làm cùng với máy tróc vỏ - thái sắn, trung bình mỗi ngày cũng có thể tróc và thái được khoảng 14 tấn sắn tươi, tương đương với công sức của 100 người lao động thủ công. Thực tế chiếc máy do Liêm chế tạo ra rất dễ sử dụng, chỉ cần cắm điện vào là chạy. Người già, người trẻ đều sử dụng được. Sắn tróc vỏ và thái ra đến đâu được Liêm quẳng lên lò sấy khô và bán hết ngay đến đó. Nếu thuê được nhiều lao động để thu hoạch sắn, nhà Liêm chỉ làm khoảng nửa tháng là xong cả 8 ha. Trong vụ sắn năm nay, gia đình Liêm cũng thu hoạch được trên 50 tấn sắn. Hiện nay chiếc máy tróc vỏ - thái sắn của Liêm vẫn đang hoạt động rất hiệu quả.</font></p><table border="1" cellspacing="1" cellpadding="1" width="100%" style="font-size: 12px"><tbody><tr><td bgcolor="#ffffcc" colspan="5"><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i>Trước khi chế tạo thành công chiếc máy tróc vỏ và thái sắn, năm 2004, Lâm Văn Liêm đã từng nghiên cứu và cải tiến thành công chiếc máy thuỷ điện nhỏ thành máy phát điện chạy bằng sức gió... . Với hai “công trình” nghiên cứu chế tạo thành công này, Liêm thực sự trở thành tấm gương sáng của đồng bào dân tộc Cao Lan trên vùng cao Lục Ngạn./.</i></p></td></tr></tbody></table><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Từ khi chế tạo thành công chiếc máy này, người dân trong vùng rất thán phục tài năng của Liêm. Hàng chục người đã đến xem và học tập cách để làm theo. Vì thế giờ đây ở xã vùng cao Đèo gia đã có trên dưới 100 chiếc máy tróc vỏ sắn, tuy nhiên với máy đồng thời làm được hai công dụng tróc vỏ và thái sắn thì vẫn chỉ có duy nhất chiếc của Lâm Văn Liêm. Tâm sự với Liêm, tôi hỏi em đã đi đăng ký bản quyền sáng chế chiếc máy này chưa? Liêm nở nụ cười bầy tỏ: Em chỉ nghĩ rằng mình làm ra chiếc mày này để đỡ công lao động cho gia đình chứ có biết đến bản quyền, bản quyết gì đâu... . <br /><br />Theo chúng tôi nhận thấy, chiếc máy tróc vỏ và thái sắn của Liêm có hiệu quả ứng dụng rất cao trong lao động sản xuất, nhất là đối với những địa phương sản xuất sắn nguyên liệu tập trung. Vì thế nếu được hoàn thiện thêm về kỹ thuật, chắc chắn sẽ được nhiều nhiều người ưa chuộng./.</font></p><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000"> </font></p></div><div align="right"><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000">Theo hoinongdan</font></span></font></i></p></div></span>]]></description>
			<pubDate>Sat, 27 Feb 2010 03:02:28 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Saturday, 27 February 2010 02:44  -  Quy trình chế biến sứa</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=268:quy-trinh-ch-bin-sa&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="font-family: Verdana, Arial, Tohoma, sans-serif; font-size: 12px; border-collapse: collapse; color: rgb(0, 0, 128); "><div class="plain"><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa là mặt hàng quan trọng ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Sứa thường được ướp muối theo phương pháp cổ truyền Trung Hoa.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa thường xuất hiện thành từng đàn theo mùa vụ ở nhiều vùng nước nhiệt đới và ôn đới. Có ít nhất 5 loài sứa có giá tri thương mại trong khu vực Đông và Đông Nam Á, trong đó ở nước ta thường thấy 4 loài:</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000"></font></p><font class="Apple-style-span" color="#000000"><div style="text-align: center; "><img mce_src="http://www.maivoo.com/pictures_fullsize/15/dlxoo1242122889.jpg" width="460" height="288" src="http://www.maivoo.com/pictures_fullsize/15/dlxoo1242122889.jpg" /></div></font><p> </p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa chấm: Có nhiều chấm màu đen trên dù, trông như những hạt vừng trên bánh đa.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa sen: Có màu xanh lơ nhạt.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa rô: Màu giống vỏ chai bia.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa gai: Trên mình có nhiều gai như những tép bưởi.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa rô và sứa sen nhỏ hơn sứa chấm nhưng có giá trị kinh tế cao hơn, thường có nhiều từ tháng 3-6. Ở miền Bắc rộ nhất vào tháng 4 dương lịch, càng vào Nam thì mùa vụ càng chậm dần.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Thân sứa hình bán cầu, có hình chiếc dù hoặc chiếc ô, trong suốt, xung quanh là riềm. Miệng sứa ở dưới, bao quanh có 4 xúc tu lớn và nhiều xúc tu nhỏ.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Dù sứa chiếm khoảng 60% trọng lượng thân sứa. Tuy vậy đối với sứa chấm , do phải gọt bỏ chấm, nên tỷ lệ còn lại chỉ chiếm từ 45-50%. Các xúc tu miệng hay còn gọi là chân sứa, nếu đem chế biến riêng thì thu được sản phẩm có giá trị thấp hơn và chỉ chế biến khi có yêu cầu.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Thân sứa chứa 96-97 % nước nên chỉ vài giờ sau khi thu hoạch là hư hỏng. Cũng do có nhiều nước, nên khi thu hoạch bằng nhiều cách khác nhau, nguyên liệu có thuỷ phần không giống nhau. Vì vậy, khi thực hiện các công đoạn chế biến như nhau, thì kết quả rút nước cũng khác nhau.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Muối có tác dụng thoát nước. Dùng quá ít, sứa bị biến chất, mất nhiều chất đạm nên tỷ lệ thành phẩm thấp. Sử dụng quá nhiều, làm sứa bị chai, khó thoát nước.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Phèn làm cho sứa cứng, dòn. Dùng quá nhiều lại làm sứa mềm nhũn, phải dùng vôi bột hoặc NaHCO</font><sub><font class="Apple-style-span" color="#000000">3</font></sub><font class="Apple-style-span" color="#000000"> để điều chỉnh lúc pH ở mức 2,8-3,2. Thích hợp nhất là pH=4.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Vì vậy cần căn cứ vào độ mặn và pH của dung dịch do sứa thoát ra cuối bước mà điều chỉnh tỷ lệ muối phèn cho thích hợp. Cũng từ đó công thức chế biến hoàn toàn linh hoạt, không giống nhau.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Nguyên liệu chế biến sứa muối phèn gồm:</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">- Sứa tươi: Sạch chấm, sạch nhớt, không nhũn nát, nguyên vẹn, không bị rách.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">- Muối trắng, khô, sạch, nhỏ hạt.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">- Phèn trắng, giã nhỏ, rây mịn. Phèn trộn đều với muối theo những hỗn hợp nhất định và chỉ trộn trước khi sử dụng 2-3 ngày.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Dụng cụ chế biến gồm dao nứa, dao bài, dao gọt mướp để lạng chấm. Bể chứa có khuôn bằng gỗ, kích thước tuỳ ý, có thể là 3 x2 x0,8 (m), trong lót bạt nhựa kín nước. Bạt không gây mùi và tạo màu cho sản phẩm. Bể muối sứa nên đặt gần bờ biển, có mái che mưa nắng.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Quy trình chế biến sứa như sau:</font></p><p align="center" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000"><img class="class" height="510" alt="5 che bien sua.JPG" width="400" style="border-top-style: none; border-right-style: none; border-bottom-style: none; border-left-style: none; border-width: initial; border-color: initial; vertical-align: top; border-width: initial; border-color: initial; margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0px; margin-left: 0px; " src="http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/5%20che%20bien%20sua.JPG" /></font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa tươi phải cắt bỏ xúc tu, 4 cánh hoa thị nối thân với xúc tu, những núm thịt lồi trên bề mặt dù sứa và bỏ ruột. Đối với sứa chấm, úp sứa trên rổ, dùng dao gọt mướp lạng sạch chấm, lạng đều tay với một lớp càng mỏng càng tốt, xong lật lại cạo sạch màng nhớt. Nếu có yêu cầu ướp cả chân sứa thì phải cạo rửa hết phần nhớt ở cuối chân. Rửa sạch bằng nước biển, loại bỏ hết chấm, nhớt còn sót lại và nhớt dính vào sứa.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sau khi xử lý, con sứa trong suốt như khối thạch và phẳng như cái mâm thì tiến hành muối lần 1. Tỷ lệ muối phèn là 100 sứa/5 muối/0,7 phèn, muối trong 2-3 ngày. Xát đều muối phèn vào bề mặt dưới của dù sứa, giữa nhiều hơn xung quanh rồi xếp sứa vào bể.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Khi muối sứa lần 2, vớt sứa, cân trọng lượng còn lại, kiểm tra từng dù sứa, nếu còn chấm hoặc váng nhớt phải cạo bỏ. Rửa lại trong nước do sứa tiết ra rồi đổ nước đi. Dùng tỷ lệ muối phèn là 100 sứa/12 muối/0,5 phèn để muối sứa trong 6-7 ngày. Xát muối phèn nhiều vào chỗ sứa còn dày.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Lần muối thứ 3, tỷ lệ muối phèn, thời gian muối và cách làm như lần 2 nhưng lượng phèn là 0,2. Đối với các xúc tu, cũng qua 3 lần ướp muối phèn như vậy đồng thời xát muối phèn vào mặt cắt và cuối chân sứa.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa đã qua 3 lần ướp muối, mình chỉ mỏng 3-4 mm. Vớt sứa để kiểm tra lần cuối, rửa sạch cát sạn rồi xả bỏ nước cũ. Xếp sứa vào thùng và bơm nước có độ mặn 24-25</font><sup><font class="Apple-style-span" color="#000000">0</font></sup><font class="Apple-style-span" color="#000000">B ngập sứa. Nước muối được hoà sẵn ở một bể khác, lắng lọc trong, vớt hết váng rồi mới bơm vào. Hàng ngày dìm sứa xuống, hoặc múc nước ở đáy bể tưới lên cho lớp trên không bị khô biến chất. Có thể ngâm sứa từ 10-14 ngày hoặc lâu hơn, tuy nhiên không được để quá lâu.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Sứa được xếp thành chồng ngay ngắn để ráo nước. Mỗi chồng sứa cao 0,5-0,6 m, trên mặt sàn xi măng, dưới lót bao PE. Trong quá trình xếp, dải thêm muối hạt lên mặt từng con sứa (4-5% so với trọng lượng sứa sau khi ngâm nước muối). Sứa vụn cho vào rổ và chồng 3-4 rổ lên nhau. Mỗi ngày đảo sứa một lần bằng cách lật từ dưới lên trên.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Tiến hành phân loại sứa theo yêu cầu của khách hàng, nhưng phổ biến là loại 1 có đường kính trên 33cm, loại 2 là 25-33cm, loại 3 là 17-25cm, còn lại là sứa vụn hoặc những dù sứa bị rách trên 7 cm. <br />Bảo quản sứa muối phèn bằng cách xếp sứa vào thùng gỗ có lót 2 lớp bao PE. Mỗi thùng 20 hoặc 50 kg. Cần cho thêm khoảng 5% sứa phụ trội để mỗi thùng khi đến tay khách hàng không bị thiếu trọng lượng. Bảo quản trong kho mát ở 5</font><sup><font class="Apple-style-span" color="#000000">0</font></sup><font class="Apple-style-span" color="#000000">C.</font></p><p align="justify" style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><font class="Apple-style-span" color="#000000">Trong quá trình chế biến sứa muối phèn, chú ý không làm rách dù sứa. Nếu dù sứa rách thì phân loại thành sứa vụn. Không sử dụng nước ngọt để rửa sứa mà chỉ dùng nước do sứa thoát ra. Đồng thời, tránh nắng mưa vì sứa bị nắng rọi sẽ bị nhũn, mưa vào sứa bị vàng.</font></p></div><div align="right"><p style="margin-top: 0px; margin-right: 0px; margin-bottom: 0.75em; margin-left: 0px; line-height: 1.5em; "><i><font face="Verdana" size="2"><span><font class="Apple-style-span" color="#000000">ĐĐB</font></span></font></i></p></div></span>]]></description>
			<pubDate>Sat, 27 Feb 2010 02:44:25 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 07:30  -  Kỹ thuật chế biến đồ hộp nước quả</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=221:k-thut-ch-bin--hp-nc-qu&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: 18px; "><p class="para" id="id4673584" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Những chất có giá trị dinh dưỡng cao nhất trong rau quả như đường, acid hữu cơ, vitamin... đều tập trung ở dịch quả. Nhờ có đầy đủ và cân đối các chất ấy nên nước quả có hương vị rất thơm ngon.</p><p class="para" id="id4673597" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Đồ hộp nước quả chủ yếu dùng để uống, ngoài ra còn dùng để chế biến xirô quả, rượu mùi, nước giải khát có nạp khí, mứt đông...</p></span>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 07:30:14 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 07:23  -  Thành phần hóa học và tính chất của động ...</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=220:thanh-phn-hoa-hc-va-tinh-cht-ca-ng-vt-thy-sn&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: 18px; "><p class="para" id="id6567721" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Thành phần hóa học gồm: nước, protein lipid, muối vô cơ, vitamin... Các thành phần này khác nhau rất nhiều, thay đổi phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, điều kiện sinh sống,... Ngoài ra, các yếu tố như thành phần thức ăn, môi trường sống, kích cỡ cá và các đặc tính di truyền cũng ảnh hưởng đến thành phần hóa học, đặc biệt là ở cá nuôi. Các yếu tố này có thể kiểm soát được trong chừng mực nào đó.</p><p class="para" id="id6567745" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Các thành phần cơ bản của cá và động vật có vú có thể chia thành những nhóm có cùng tính chất.</p></span>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 07:23:32 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 07:18  -  Kỹ thuật chế biến đồ hộp cá - thịt</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=219:k-thut-ch-bin--hp-ca-tht&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: 18px; "><p class="para" id="id6601357" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">- Tiếp nhận cá</p><p class="para" id="id6601367" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Nguyên liệu cá tiếp nhận phải tươi, đồng đều về kích thước, khối lượng và màu sắc, mùi đặc trưng, thịt cá còn chắc, nguyên vẹn không bị tổn thương, mắt tươi trong và có trong lượng khoảng 60 đến 100g/con.</p><p class="para" id="id6601381" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">- Xử lý sơ bộ</p><p class="para" id="id6601386" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Cá được rửa sạch, đánh vảy, cắt đầu, chặt đuôi, mổ bụng lấy sạch nội tạng, sau đó rửa sạch cho hết máu, nhớt, bẩn trong khoang bụng và trên cá, cần chú ý thao tác trong công đoạn này phải nhanh nhằm tránh lây nhiễm vi sinh vật vào sản phẩm.</p><p class="para" id="id6601408" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">- Ngâm giấm</p><p class="para" id="id6601417" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Mục đích: Trong cá biển có nhiều Trimethylamin oxyd gây mùi tanh khó chịu, hợp chất này cá tính bazơ nên dùng acid acetic để loại chúng. Ngoài ra, nồng độ H+ có tác dụng ức chế vi sinh vật. Khi pH = 6 thì vi khuẩn thối rửa bị khống chế, pH = 4.5 vi khuẩn ngừng sinh sản, và khi pH = 3 thì các enzyme bị kìm hãm. Khi ngâm giấm, protein bề mặt bị biến tính, thịt cá trở nên rắn chắc hơn.</p></span>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 07:18:21 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 06:24  -  Công nghệ chế biến nước mắm</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=213:cong-ngh-ch-bin-nc-mm&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: 18px; "><p class="para" id="id6609330" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Nước mắm là dung dịch đạm mà chủ yếu là các acid amin, được tạo thành do quá trình thủy phân protein cá nhờ hệ enzym protease có trong cá. Ngoài ra nước mắm còn dùng để chữa một số bệnh như đau dạ dày, phỏng, cơ thể suy nhược, cung cấp năng lượng.</p><p class="para" id="id6609347" style="margin-top: 1em; margin-right: 0px; margin-bottom: 1em; margin-left: 0px; display: block; ">Nước mắm được sản xuất ở hầu hết các nước Châu Á. Mỗi nước có kiểu sản xuất khác nhau tạo ra sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị cảm quan khác nhau</p></span>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 06:24:56 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 06:20  -  Đánh cá kết hợp ánh sáng</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=212:anh-ca-kt-hp-anh-sang&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: normal; "><span class="cnx_before" style="font-weight: bold; "> </span><span class="span">Đánh cá kết hợp ánh sáng vốn là nghề khai thác vốn tồn tại rất lâu đời. Từ xa xưa những người ngư dân cũng đã biết sử dụng các nguồn sáng (đuốc, đèn dầu, đèn khí,...) kết hợp với các ngư cụ thô sơ (chĩa, nôm, dao,...) để khai thác cá vào những đêm tối trời. </span></span><div><span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: normal; "><span class="span"><br /></span></span></div><div><span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: normal; "><span class="span">Ngày nay với sự phổ biến của nguồn sáng điện, các ngư cụ khai thác cũng được cải tiến thêm để kết hợp với nguồn sáng này tạo thành các ngư cụ khai thác kết hợp ánh sáng , chẳng hạn lưới vó, lưới đăng, lưới vây kết hợp ánh sáng,...rất hiện đại và đạt hiệu quả cao, mang lại nhiều sản lượng khai thác cho từng mẽ đánh bắt. Chắc chắn rằng việc khai thác cá kết hợp ánh sáng trong tương lai sẽ còn phát triển hơn nữa trên qui mô và sự đa dạng ngư cụ. </span></span></div><div><span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: normal; "><span class="span">Tuy vậy việc kết hợp giữa ánh sáng và ngư cụ khai thác muốn đạt hiệu quả cao không thể chỉ dựa váo điều kiện vật chất, kỹ thuật mà còn phải biết kết hợp các phương tiện này với việc đi sâu tìm hiểu rõ mối quan hệ giữa sinh lý, sinh học cá và môi trường sống của cá trong điều kiện bị ảnh hưởng bởi nguồn sáng thì thật sự mới có thể đạt hiệu quả trong khai thác cá kết hợp ánh sáng. </span></span></div><div><span class="Apple-style-span" style="color: rgb(0, 0, 0); font-family: tahoma, verdana, arial, helvetica, sans-serif; line-height: normal; "><span class="span">Do vậy, trong chương này chủ yếu giới thiệu về một số ngư cụ khai thác cá kết hợp ánh sáng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời nêu bật lên mối quan hệ giữa tập tính sinh lý cá trong nguồn sáng.</span></span></div>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 06:20:10 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 04:53  -  Các biện pháp bảo quản tươi nguyên liệu thủy sản</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=211:cac-bin-phap-bo-qun-ti-nguyen-liu-thy-sn&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<div><br /></div><div>Để tránh sự hư hỏng và sự giảm sút chất lượng của cá thì cách dễ thấy nhất là giữ cho cá vẫn còn sống cho đến khi ăn. Vận chuyển cá sống cho mục đích thương mại và tiêu dùng đã được Trung Quốc áp dụng đối với cá chép có lẽ đã hơn 3000 năm. Ngày nay, việc giữ cá sống cho việc tiêu dùng là một phương pháp thường thấy ở cả các nước đã phát triển lẫn các nước đang phát triển với cả quy mô công nghiệp lẫn thủ công.</div><div><br /></div><div>Khi vận chuyển cá sống, cá trước tiên được nuôi dưỡng trong bể chứa bằng nước sạch. Trong khoảng thời gian này, những con cá bị thương, yếu hoặc chết sẽ được vớt ra. Cá bị bỏ đói và nếu có thể được thì người ta hạ nhiệt độ của nước nhằm làm giảm tốc độ của quá trình trao đổi chất và làm cho cá ít hoạt động hơn. Quá trình trao đổi chất xảy ra ở mức thấp sẽ làm giảm mức độ nhiễm bẩn nước do amoniac, nitrit và khí cacbonic là những chất độc đối với cá. Đồng thời, tốc độ trao đổi chất thấp cũng làm cá giảm khả năng lấy ôxy từ nước. Những chất độc trên sẽ có xu hướng làm tăng tỷ lệ cá bị chết. Do cá ít hoạt động hơn nên người ta được phép tăng mật độ của cá trong các thùng chứa.</div><div><br /></div><div>Một số lượng lớn các loài cá thường được giữ sống trong các bể chứa, lồng nổi, giếng đào và các ao cá. Các bể chứa, thường là của các công ty nuôi cá, có thể được lắp các thiết bị điều chỉnh oxy, hệ thống tuần hoàn và lọc nước, thiết bị điều chỉnh nhiệt độ. Tuy nhiên, trong thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp đơn giản hơn. Ví dụ như các rổ lớn đan bằng lá cọ được dùng như các lồng nổi (ở Trung Quốc), các ao cá đơn giản được xây ở vùng nước đọng của một khúc sông hoặc suối nhỏ để giữ các loài “suribi” (Platystoma spp.), loài “pacu” (Colossoma spp.) và “piracucu” (Arapalma gigas) thuộc lưu vực sông Amazon và Parana ở Nam Mỹ</div>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 04:53:23 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Friday, 12 February 2010 04:22  -  Chế biến thủy sản</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=210:ch-bin-thy-sn&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<div>Những biến đổi ở cá tươi nguyên liệu</div><div>Trong quá trình bảo quản, những biến đổi đầu tiên của cá về cảm quan liên quan đến biểu hiện bên ngoài và kết cấu. Vị đặc trưng của các loài cá thường thể hiện rõ ở vài ngày đầu của quá trình bảo quản bằng nước đá.</div><div><br /></div><div>Biến đổi nghiêm trọng nhất là sự bắt đầu mạnh mẽ của quá trình tê cứng. Ngay sau khi chết, cơ thịt cá duỗi hoàn toàn và kết cấu mềm mại, đàn hồi thường chỉ kéo dài trong vài giờ, sau đó cơ sẽ co lại. Khi cơ trở nên cứng, toàn bộ cơ thể cá khó uốn cong thì lúc này cá đang ở trạng thái tê cứng. Trạng thái này thường kéo dài trong một ngày hoặc kéo dài hơn, sau đó hiện tượng tê cứng kết thúc. Khi kết thúc hiện tượng tê cứng, cơ duỗi ra và trở nên mềm mại nhưng không còn đàn hồi như tình trạng trước khi tê cứng. Thời gian của quá trình tê cứng và quá trình mềm hoá sau tê cứng thường khác nhau tuỳ theo loài cá và chịu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ, phương pháp xử lý cá, kích cỡ và điều kiện vật lý của cá (Bảng 2.1).</div><div><br /></div><div>Sự ảnh hưởng của nhịệt độ đối với hiện tượng tê cứng cũng không giống nhau. Đối với cá tuyết, nhiệt độ cao làm cho hiện tượng tê cứng diễn ra nhanh và rất mạnh. Nên tránh điều này vì lực tê cứng mạnh có thể gây ra rạn nứt cơ thịt, nghĩa là mô liên kết trở nên yếu hơn và làm đứt gãy miếng philê .</div><div><br /></div><div><a mce_href="images/congnghechebien.pdf" target="_blank" href="images/congnghechebien.pdf">2008 Đức Trần Collection </a></div>]]></description>
			<pubDate>Fri, 12 Feb 2010 04:22:04 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 07 September 2009 06:22  -  KHẢO SÁT TINH SẠCH ENZYME CHYMOPAPAIN TRONG MỦ TRÁI ...</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=159:kho-sat-tinh-sch-enzyme-chymopapain-trong-m-trai-u-vit-nam&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<div>TÓM TẮT: Khảo sát hàm lượng các enzyme thành phần trong mủ trái đu đủ tươi qua các giai đoạn sinh trưởng của trái bằng sắc kí trao đổi ion CM-Cellulose cho thấy chymopapain luôn chiếm tỉ lệ cao nhất về hàm lượng và hoạt tính tổng cộng. Kết quả tương tự với mủ đông khô. Tinh sạch chymopapain từ mủ đông khô qua giai đoạn phân đoạn muối tích sunphat amon cho thấy chymopapain còn lẫn peptidase, tiếp tục tinh sạch qua giai đoạn sắc kí trao đổi ion CM-Cellulose và kiểm tra qua điện di SDS-PAGE cho thấy sơ bộ đã phân tách riêng được enzyme này.</div>]]></description>
			<pubDate>Mon, 07 Sep 2009 06:22:29 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Thursday, 27 August 2009 10:44  -  Làm tơi đất bằng... sóng siêu âm</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=150:lam-ti-t-bng-song-sieu-am&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<div><span style="color: #000000; font-family: Arial; font-size: 13px; line-height: 19px; font-weight: bold" class="Apple-style-span">Giờ thì người nông dân có thể quên đi chiếc máy phay đất của họ bởi kỹ sư Nidal H. Abu-Hamdeh thuộc ĐH Khoa học và công nghệ Jordan vừa phát triển một phương pháp đơn giản làm tơi lớp đất mặt. Bằng cách điều chỉnh một chiếc bánh xe bằng thép chứa đầy gel để nó phát ra sóng siêu âm ở tần số tự nhiên của đất, các hạt đất sẽ rung lên và tơi ra mà không cần chém vào đất.</span></div><div><br /></div><div><div style="text-align: center"><img mce_src="http://a8.vietbao.vn/images/vn2/khoa-hoc/20047881_images122080_tiller_zoom.jpg" border="0" src="http://a8.vietbao.vn/images/vn2/khoa-hoc/20047881_images122080_tiller_zoom.jpg" /></div><div style="text-align: center"><br /></div><div style="text-align: left"><span style="color: #000000; font-family: Arial; font-size: 13px; line-height: 19px" class="Apple-style-span"><p style="margin-top: 18px; margin-right: 0px; margin-bottom: 18px; margin-left: 0px" align="justify">Các phương pháp làm tơi đất truyền thống liên quan tới việc buộc một chiếc máy xới đất đằng sau máy kéo. Cần phải có một chiếc máy kéo nặng để truyền lực của bánh xe xuống đất, biến nó thành lực kéo. Vì vậy, Abu-Hamdeh cho biết: ""Cách đây nhiều năm, tôi đã bắt đầu nghĩ tới chuyện cải thiện việc canh tác bằng cách tìm ra phương pháp làm tơi đất song chỉ cần ít lực kéo hơn"".</p><p style="margin-top: 18px; margin-right: 0px; margin-bottom: 18px; margin-left: 0px" align="justify"><font face="Arial">Việc làm đất theo kiểu cổ trên sẽ khiến đất dưới bánh máy kéo bị rắn lại. Trong khi đó, máy xới đất bằng sóng âm không xâm nhập vào đất mà chỉ lăn tròn trên bề mặt và không cần máy kéo nặng. Cấu tạo của máy gồm một tấm kim loại có gắn máy phát điện. Máy phát được nối với một hệ thống siêu âm. Bốn bánh xe nằm ở dưới tấm kim loại có chức năng kéo máy di chuyển trên ruộng và phát ra sóng siêu âm. Ngoài ra, máy còn có bộ phận kéo 3 chạc để người sử dụng gắn vào một thiết bị cơ giới khác.<br /><br />Abu-Hamdeh đã thử nghiệm máy xới đất mẫu trên đất nhiều chất sét ở Jordan và đo độ chặt của đất, độ sốp cũng như các tín hiệu thay đổi khác. Ông phát hiện loại máy này làm tơi đất tới độ sâu khoảng 20cm. Ông nói: ""Dường như đây là lần đầu tiên kỹ thuật sóng siêu âm được sử dụng để làm tơi lớp đất mặt, phục vụ mục đích nông nghiệp"".</font></p><p style="margin-top: 18px; margin-right: 0px; margin-bottom: 18px; margin-left: 0px" align="justify"><font face="Arial">Hiện Abu-Hamdeh đang tìm kiếm nhà tài trợ để chế tạo một chiếc máy xới đất quy mô lớn với hy vọng nó có thể làm tơi đất tới độ sâu 25cm. Theo ông, độ sâu này vừa đủ để trồng một số loại cây. Nhiều nghiên cứu nữa đang được tiến hành để tăng độ sâu.<br /><br />Nhà nghiên cứu nông nghiệp Shrini Upadhyaya thuộc ĐH California cho biết <i><font color="#0000FF">mục tiêu chính của công nghệ xới đất hiện tại là tránh làm cho đất bị rắn lại</font></i>. Các máy phay đất sử dụng sức nặng của chúng để đào và làm đất tơi ra. Máy phay tốt hơn máy kéo, song máy xới đất siêu âm có thể còn tốt hơn nhiều bởi nó <i><font color="#0000FF">không xâm nhập vào đất</font></i>. Lợi thế của nông nghiệp không xới đất là nó <i><font color="#0000FF">không làm xáo trộn các vi sinh vật có lợi cũng như giữ các hợp chất carbon trong đất</font></i>. Các hợp chất carbon, chẳng hạn như CO<sub>2</sub> được giải phóng và bay lên không trung khi đất bị xới lên. Những chất này đóng góp vào quá trình ấm hoá toàn cầu.</font></p><p style="margin-top: 18px; margin-right: 0px; margin-bottom: 18px; margin-left: 0px" align="justify"><font face="Arial"><b>Minh Sơn <i>(Theo Discovery)</i></b></font></p></span></div></div>]]></description>
			<pubDate>Thu, 27 Aug 2009 10:44:35 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 03 August 2009 03:38  -  Jacalin hột mít ngăn chận trùng SIDA</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=147:-jacalin-ht-mit-ngn-chn-trung-sida&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: justify">Ai về nhắn với họ ngưồn</div><div style="text-align: justify">Mít non cho xuống cá chuồn cho lên.</div><div style="text-align: justify">Ca dao</div><div style="text-align: justify">Bệnh SIDA (Syndrome d’ImmuniDeficiency Acquise, hay theo danh pháp Anh Mỹ AIDS, Acquired Immmune Deficiency Syndrome) như tên gọi, là toàn bộ những bệnh lý mà mẫu số chung là sự suy nhược hệ thống miễn dịch của con người. Do đấy, cơ thể rất dễ bị mọi vi trùng phá phách, hoành hành. Từ những thập niên 80, 90, trùng gây bệnh được tìm ra là một độc trùng hay virus mang tên VIH (Virus de l’Immunodeficience Humaine hay HIV). Vài năm sau, người ta còn phân biệt được hai thứ VIH1 và VIH2, con thứ nhất dễ bắt gặp hơn. Cả hai đều là những trùng ghê gớm nhờ khả năng ngẫu biến dễ dàng khiến chúng có phương tiện thay hình đổi dạng lanh chóng để lẫn tránh thuốc men.</div><div style="text-align: justify"> <div style="text-align: center"><img mce_src="http://farm3.static.flickr.com/2128/2394547665_19c33c97e6.jpg" border="0" width="400" src="http://farm3.static.flickr.com/2128/2394547665_19c33c97e6.jpg" /></div></div><div style="text-align: justify">Cơ chế truyền nhiễm</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Những trùng VIH thuộc loại retrovirus, nghĩa là những virus sinh sản đâm chồi trên mặt tế bào. Cấu tạo chúng là những ARN (Acide RiboNucléique hay RNA) bao quanh ở ngoài một lớp glycoprotein gp (gp41 và gp120 ở VIH1). Những gp nầy đóng một vai trò cốt yếu trong việc truyền nhiễm. Khi VIH xâm nhập cơ thể sinh vật, nó đặc biệt tấn công vào những lymphocyt T4, tức là những bạch huyết bào chủ chốt trong cuộc bảo vệ chống nguyên lực nhiễm bệnh. Trên mặt hưyết bào có một lớp protein gọi là CD4. Công việc đầu tiên của VIH là cho gắn liến gp của mình vào CD4 (hay CD26) của huyết bào qua sự hỗ trợ của một dư phân tử như phân tử fusin hay cơ quan nhận cảm CCR5 để cho nó lọt được vào lòng huyết bào. Bệnh tình càng tiến thì số lượng bạch huyết bào T4 càng sụt. Thường trong máu người có khoảng 1000 T4 mỗi mililit. Khi số lượng nầy sụt xuống dưới 200 thì cơ thể hết còn chống lại được các vi trùng gây bệnh, ngay cả những loại thường được cho là yếu ớt.</div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Đột nhập được vào lòng huyết bào rồi thì VIH tổ chức chuyện sinh sôi nảy nở. Bản chất di truyền của nó là ARN như đã thấy, nhưng bộ máy tế bào của huyết cầu không biết trực tiếp chế biến ARN. Nó sử dụng một giếu tố có sẵn trong cơ thể người là ETI (Enzym Transcriptase Inverse) để cho tế bào thực hiện công việc sản xuất các trùng con. Ngày nay, kinh nghiệm lâm sàng cho biết chứng bệnh SIDA diễn biến theo 4 giai đoạn :</div><div style="text-align: justify">- Trong giai đoạn thứ nhất, thời kỳ sơ nhiễm (từ 3 tuần đến 3 tháng), tức là đợt tấn công của VIH tương đương với một hoạt động virus tuy khá quan trọng mà ít có triệu chứng rõ rệt. Thỉnh thoảng thấy bệnh nhân lên cơn sốt trong khoảng 1 tháng, trong mình khó chịu, chán ăn, nhức đầu, đau xương, bắp thịt rã rời, mụt mọc đầy da. Bệnh tương đối nặng hơn trong các trường hợp nầy. Tuy nhiên, những thử nghiệm dò tìm ít đem lại kết quả vì mục đích là tìm kiếm kháng thể do cuộc phòng thủ miễn dịch phát ra nhưng chúng đang còn quá ít.</div><div style="text-align: justify">- Qua giai đoạn thứ nhì, lúc huyết bào chế biến trùng con là lúc cuộc phòng thủ miễn dịch hoạt động mãnh liệt, cũng là lúc huyết bào mới được sản xuất tối đa để bù lại các huyết bào bị hư hỏng. Mỗi ngày khoảng chừng 1 tỷ trùng con và tế bào đuợc chế biến và phá huỷ. Khả năng phòng thủ miễn dịch sụt dần xuống. Tuy là một giai đoạn kéo khá dài, trung bình 1 năm, vẫn ít thấy có tín hiệu huyết thanh dương tính phát hiện nên gọi là thời kỳ vô triệu chứng.</div><div style="text-align: justify">- Giai đoạn thứ ba, dài khoảng 2 năm, tức là thời kỳ tiền SIDA, tương đương với hội chứng u hạch bạch huyết dai dẳng. Những hạch phồng lên, trung bình 30 tháng sau khi bệnh bộc khởi.</div><div style="text-align: justify">- Khi cuộc phòng thủ miễn dịch hết còn hữu hiệu, số bạch huyết bào T4 sụt xuống dưới 200 mỗi mililit, bệnh nhân bước qua giai đoạn thứ tư tức là giai đoạn cuối cùng, thời kỳ SIDA công khai. Vào lúc nầy, mọi vi khuẩn, vi trùng gây bệnh, tế bào ung thư,… đua nhau nảy nở,  dần đưa bệnh nhân vào tay tử thần.</div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Phòng ngừa chống chỏi</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">Bên lề cuộc tìm kiếm khó khăn một vaccin để vô hiệu hóa virus, việc bài trừ SIDA hiện nay dựa lên khoa liệu pháp hóa học, dùng hóa chất ngăn chận trùng VIH xâm nhập bạch huyết bào hay chế biến trùng con. Biết chắc VIH phải vào cho được lòng huyết bào, những công tác khảo cứu đầu tiên tìm kiếm cách phá hủy tác động giữa gp120 vỏ trùng và protein CD4 huyết bào. CD4 là một phân tử không hoà tan. Qua nhiều phản ứng hóa học, người ta có thể chế biến nó thành hoà tan, đem pha loãng rồi dùng dung dịch che chở huyết bào. Kết quả rõ ràng tích cực nhưng lâu ngày có những phản ứng phụ không tốt. Nhiều khảo cứu viên muốn xoay qua dùng những bạch huyết bào T4 tương ứng với vùng tác động của virus, tương đối dễ chế tạo hơn và cũng ít phản ứng phụ hơn. Mặt khác, những hóa chất có điện tích âm như loại polyanionic (những polysulfat như heparin, dextran sulfat, pentosan polysulphat, mannan sulfat, curdlan sulfat, polyvinylic alcool sulfat, những polycarboxylat như aurin tricarboxylic acid ) cũng làm cản trở không ít tác động giữa VIH và T4. Trong lãnh vực nầy, những polymer sulfat cũng tỏ ra rất hiệu nghiệm và nhiều phòng thí nghiệm đang đầu tư vào cuộc chế tạo các sulfat nầy.</div><div style="text-align: justify">Không ngăn ngừa được trùng SIDA đột nhập huyết bào thì phải kiếm cách đừng cho nó phát triển trong ấy. Trong lúc chờ đợi một vaccin nan giải, người ta đã nghĩ cách ghép vào huyết bào một gen mới để nó tự chống lại virus. Hiện giờ, mục tiêu dễ thấy là enzym ETI đã biến hoá ARN của trùng ra ADN. Những chất ức chế ETI được dùng trước nhất là những 2’,3’-didesoxynucleosid : hãng Wellcome cho ra AZT (3’-azido-2’,3’-didesoxythymidin), hãng Hoffmann-Laroche thực hiện DDC (2’,3’-dideoxycytidin), hãng Bristol-Meyers Squibb chế tạo DDI, hãng Glaxo phát hành 3TC,… Tác dụng ức chế các thuốc nầy là hoặc giành chỗ ARN hoặc sát nhập vào các ADN đang thành hình. Có điều ETI cũng là enzym tổng hợp ADN cho người, phá phách nó tất nhiên có hại cho cơ thể. Đằng khác, VIH lại có khả năng ngẫu biến để thích nghi với những điều kiện của môi trường mới lại làm cho cuộc điều trị rắc rối hơn. Những chất như acyclic phosphonat nucleosid PMEA, rất ổn định trong tế bào, có tác dụng lâu dài, dẫn xuất FPMPA của nó cũng có tác dụng đáng kể nhưng đều mắc phải nhược điểm nói trên. Trước những khó khăn đó, cần phải tìm cho ra nhũng chất ức chế đặc thù. Từ 1989, ra đời những chất acyclouridin HEPT (Mitsubishi Kasei Corporation), benzodiazepin TIBO (Janssen-Johnson và Johnson) và, một vài năm sau, những phân tử thuộc các loại dipyridodiazepinon (Boehringer Ingelheim), pyridinon (Merk, Sherp và Dohme), bis-heteroaryl piperazin (Upjohn) đặc biệt chỉ phá hoại ETI phục vụ VIH mà không đả động đến các enzym ADN polymerase khác của cơ thể.</div><div style="text-align: justify">Vài năm trước đây, một chiến lược mới bài trừ VIH đã được thực hiện và kết quả rất khả quan. Thay vì chỉ dùng một chất thuốc độc nhất, người ta áp dụng cùng một lúc nhiều chất, trừ khử luôn một lần nhiều dạng của trùng đang ngẫu biến. Lúc đầu, từng cặp đôi thuốc đã đuợc kết hợp : AZT và DDC, AZT và DDI, AZT và 3T. Những cặp đôi nầy rõ ràng có hiệu lực hơn khi thuốc được dùng một mình. Sau đó, kết quả thật mỹ mãn khi các cặp thuốc kia được kết hợp thêm với một trong những thuốc mới như Saquinavir (Roche), Ritonavir (Abbott), Indinavir (Merck), ngay cả lúc số bạch huyết bào T4 của bệnh nhân sụt xuống gần 200 mỗi mililit máu. Các chuyên gia tiên đoán sẽ rồi còn đuợc hoàn thiện hơn nếu các bệnh nhân được dùng thuốc ngay từ giai đoạn thứ nhất, nhất là khi bắt đầu thấy có triệu chứng. Hơn nữa, họ còn đề nghị đồng thời với 3 cặp thuốc kia, nên điều trị bệnh nhân thêm với những thuốc phục chế hệ miễn dịch, thuốc chống oxi hóa để tránh xung động và thuốc kháng sinh phổ rộng để giảm hạ hiệu ứng các du nhân tử sinh bệnh. Những nguồn tin mới nhất cho biết giữa năm 2008 sẽ có bán ở 27 nước Âu châu viên thuốc hồng Atripla đã được Cơ quan Y tế Thế giới OMS chuẩn y và Cơ quan Lương thực Hoa Kỳ FDA công nhận từ 2006. Viên thuốc nầy là một hỗn hợp ba thuốc Efavirenz, Emtricitabine và Tenofovir, đã đuợc bán riêng rẻ từ nhiếu năm nay qua ba hảng Bristol-Myers Squibb, Gilead Sciences và Merck. Cả ba đều là những chức ức chế giếu tố transcriptase inverse là một enzym ngăn cản virus sinh sản trong tế bào nhưng tác động khác nhau nên cuộc liên hợp hy vọng sẽ đem lại hiệu lực tối cao trong một áp dụng sinh vật hóa học cực kỳ phức tạp. Cũng nên biết thêm là thuốc sẽ bán với giá rất rẻ ở các nước đệ tam thế giới.</div><div style="text-align: justify"> <div style="text-align: center"><img mce_src="http://farm1.static.flickr.com/47/237434499_29bcaf47da.jpg" border="0" src="http://farm1.static.flickr.com/47/237434499_29bcaf47da.jpg" /></div></div><div style="text-align: justify">Lectin hột mít</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">Tìm ra được lúc đầu trong thảo mộc (thân, rễ, lá, củ), về sau cả trong nấm, vi khuẩn, động vật hạ cấp (như ốc, sên) hay động vật có xương sống (như gà, chuột, lươn), lectin là những protein có khả năng tác động với sacccharid để gây ra sự ngưng kết các tế bào động vật. Sau nhiều tên : agglutinin, hemaglutinin, phytohemaglutinin, cuối cùng nó được gọi lectin (từ động từ La Tinh legere có nghĩa chọn lựa) vì nó có khả năng phân biệt các loại máu. Lectin đầu tiên được khám phá ra là ricin (từ hột thầu dầu) năm 1888, rất độc vì làm ngưng kết các hồng huyết bào. Ricin và sau nầy một chất tương tự, albrin (từ hột cam thảo dây) đã được dùng để chứng minh nhiều nguyên tắc căn bản trong ngành huyết học. Concanavalin, lectin đầu tiên chiết xuất ròng sạch từ một loại đậu năm 1916, lại có tính chất làm kết tủa huyết bào vì nó ngưng kết với glycogen, những carbohydrat, tức là đường tích trử trong cơ thể. Người ta còn biết cứ cho thêm đường như glucose thì tránh được huyết bào bị concanavalin kết tủa, vì concanavalin liên kết với glucose dễ hơn với đường trong huyết bào. Dần dần, các lectin trở thành những dụng cụ quý báu để khảo sát những thay đổi ở mặt ngoài tế bào trong thời gian ung thư hoá đồng thời cho phát triển những tính chất đặc thù của những tế bào u khối.</div><div style="text-align: justify">Lectin phát xuất từ hột mít (tiếng Pháp : jacque hay jaque, tiếng Anh : jackfruit) mang tên jacalin (hay jacali, jacalon, jacaline, jacalini, jacalino, jacalinon,… tùy theo nước). Nó được chiết xuất với một dung dịch đệm phosphat rồi phân đoạn protein qua sắc ký ái lực hay sắc phân lỏng cao áp. Người ta làm tinh khiết nó trên một cột N-acetyl-D-galactosamin, Sepharoche, Sephadex hay G100. Jacalin tinh thể trụ góc đứng hệ thoi xem xét cặn kẽ cho thấy một dạng tetramer. Gần đây, từ A. integrifolia đã được phát giác một dạng tetramer có cấu tạo tương tự gọi là artocarpin, ít được học hỏi (24). Gần đây, jacalin đã được khảo sát vế mặt cấu tạo tinh thể (25) và qua tia X (26). Mít thường được dùng để khảo cứu thuộc loại Artocarpus heterophyllus Lamk. hay A. integrifolia Linn., A. integer Mer., có khi A. integre, A. incisa, A. communis, A. lingnamensis, A. champeden, A. tonkinensis, A. hirsuta, A. hypargyreus, A. altilis, A. lakoocha cùng một số mít hoang dại ở Việt Nam thuộc họ Dâu tằm Moraceae. Jacalin là một glycoprotein mang 4 polypeptid, chứa 3% carbohydrat mà cấu tạo đã được phân tích. Lớn chừng 50kDa, nó gồm có một dãy alfa liên kết 133 amin acid bất cộng hóa, một dãy 15kDa mang glycogen, một dãy 12kDa không mang glycogen và một dãy bêta ngắn với 20 mảnh. Dãy nầy có một trọng lượng phân tử 2090, tương đối nhỏ so với dãy kia, 16.200. Hai dãy 15kDa và 12kDa có thành phần amin acid tương tự . Đem phân giải protein với Staphyloccocus areus proteinase thì chúng hiến thêm một peptid nhỏ hơn 4kDa. Phần chiết thô còn chứa những polypeptid khác.</div><div style="text-align: justify">Hai dãy bêta và 15kDa đã được phân tích qua sác phân lỏng cao áp và dãy 17kDa qua phương pháp điện chuyển. Dãy bêta trong 3 loại A. integrifolia , A. champeden và A. tonkinensis có phần khác nhau, đặc biệt jacalin của A. champenden có hai dãy bêta (17)  Nghiên cứu trên 2 loại mít hoang ở Việt Nam, các tác giả tìm ra một dãy alfa thứ nhì ở jacalin A. asparulus và một dãy bêta thứ nhì ở jacalin của A. masticata (20). Ngoài ra, một số mít khác mọc ở Việt Nam như A. heterophyllus, A. malinoxylus, A. parva, A. petelotii cũng đã được khảo cứu và cho thấy các loại mít không có cấu tạo hoàn toàn giống nhau (20). Một cuộc nghiên cứu cấy mô jacalin cDNA (isolectin) phát hiện những chuỗi amin acid đã được tổng hợp qua một prepropeptid với cấu tạo : N-tín hiệu (21 mảnh) - propeptid (39 mảnh) - bêta peptid (20 mảnh) – vùng liên kết (4 mảnh) – alfa peptid (133 mảnh). Cũng như agglutinin của một loại dâu cam Maclura pomifera, ngoài O-glycan và N-acetylgalactosamin, jacalin có ái lực với methyl D-galactosid  chứ không phải galactose ở thể tự do cũng như có khả năng ngưng kết với tinh dịch của người và chuột.</div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Những công tác khảo cứu nhiệt động học về liên quan của các diosid cho thấy jacalin tác động ưu tiên với GalD(1-3)DGalNAc, một disaccharid thường có trong các glycoprotein. Từ 20 năm nay, người ta biết jacalin phản ứng với dãy carbohydrat alkali bền hay ít bền loại galactosyl acetyl galactosamin thuộc nhóm Thomson-Friendenreich (22). Tính chất jacalin làm kết tủa các glycoprotein IgA, IgD được chứng minh (2,3). Hơn nữa, IgA lại được chỉ định là IgA1. Mặt khác, jacalin còn ngưng kết ít nhiều với cả IgA2 (4,6), IgM (4,5), IgG (19), IgE (4), hiện tượng phần nào mâu thuẩn với vài công tác khác. Người ta suy đoán những tính chất liên kết khác nhau với Ig (9) vì phương cách chiết xuất không hoàn toàn giống nhau, từ những cây mít không mọc cùng vùng đất, xa nhau hàng nghìn dặm (từ Brazyl qua Philippines, từ La Réunion qua Okinawa, từ Hawai qua Ấn Độ). Ngay cả tên cây mít cũng có khi lẫn lộn (11).</div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Ứng dụng jacalin</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">Ngoài tính chất kết tủa các immunoglobulin, lectin còn có khả năng ngưng kết nhiều loại tế bào như hồng huyết cầu erythrocyt, bạch huyết cầu leucocyt, u khối, vi khuẩn virus. Riêng jacalin có một tác động đặc biệt với những chất đuờng, những O-glycan (28) . Nó</div><div style="text-align: justify">đã trở thành một dụng cụ cần yếu trong ngành huyết học (1,2,11) nhờ tính chất giáng phân các bạch huyết bào. Nó được chứng minh đã kích thích những chức năng các tế bào T và B con người, đặc biệt kích thích bạch huyết bào T phát tiết immunoglobulin. Người ta dùng nó để chiết xuất IgA, IgA1, ước tính số lượng IgA1, phân tách IgA1 và IgA2 (23), loại bỏ IgG trong cuộc chế biến gamma globulin, làm ròng polysaccharid (29), dò tìm galactoglucomannan trong thực phẩm, phát sinh sản xuất gamma interferon trong bạch cầu đơn nhân máu ngoại vi và trong môi cấy lymphocyt T con người, khảo cứu liên quan protein-carbohydrat trong thời gian di chuyển bạch cầu trung tính, khảo cứu các loại ung thư lành tính cũng như ác tính. Ngoài ra, quan trọng nhất là tính chất gián phân của jacalin chính xác lên màng bạch huyết bào CD4 T (11,13).  Nó kích thích sự phospho hóa  những enzym ERK và JNK trong huyết bào nầy (27). Tính chất rất quan trọng khi ta biết có một tương quan rõ rệt giữa số lượng tế bào T của màng CD4 và tiến triển của chứng bệnh SIDA.</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">Một cuộc hợp tác giữa 12 khảo cứu viên đủ ngành ở nhiều trường Đại học, viện Sinh học, trường Y khoa, bệnh viện ở Pháp và Hoa Kỳ đã đi sâu vào việc dùng jacalin ức chế VIH (16). Đặc biệt Ts Nathalie Pineau là một kỹ sư khảo cứu về dị ứng trên da ở công ty Oreal. Trong phòng thí nghiệm, in vitro, các tác giả nhận thấy jacalin rõ ràng ức chế cuộc nhiễm trùng của VIH1 lên những bạch huyết bào con người, đặc biệt các tế bào đơn nhân máu ngoại vi và các tuyến tủy bào bạch cầu đơn nhân to. Như trên đã thấy, khi VIH lọt vào máu, màng gp120 vỏ trùng tác động với protein CD4 bạch huyết bào. Jacalin làm giảm hạ tác động ấy nhưng không phải vì đã thay thế CD4 liên kết với gp120. Jacalin tác động với bạch huyết bào T và rất có thể đã phá VIH qua cuộc liên kết với các phân tử màng tế bào, nhất là CD4. Mặt khác, các tác giả còn tìm ra trong jacalin một dãy alfa gồm có 14 amin acid giống hệt một khúc trong gp120. Một peptid nhân tạo tổng hợp tương đương với dãy alfa nầy cũng có khả năng ức chế VIH, in vitro (14).</div><div style="text-align: justify">Nước ta có ít nhất một chục loại mít trong số khoảng 50 loại trên thế giới. Lectin và jacalin đã được khảo cứu ở các trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Vài năm trước đây đã thấy phát hành một bản lectin chiết xuất từ mít, muồng, chay, sen, mướp đắng, dâu tằm, sam, ốc, trạch, diệp ngọc (Gs Nguyễn Quốc Khang). Ngoài ra, nhiều tên khảo cứu viên Việt Nam đã thấy ký trong các bản báo cáo sau một thời gian thực tập ở Pháp : B.P. Thuân, lectin sam Tachypleus tridentatus (7) ; Nguyễn Quốc Khang, jacalin chay A. tonkinensis (8), muồng Crotalaria striata (12); Đỗ Ngọc Liên, jacalin chay A. tonkinensis, mít dại A. integrifolia, mít tố nữ A. champeden (15,17), A. asperulus, A. masticata (18), A. heterophyllus, A. melinoxylus, A. parva, A. petelotii (20). Các jacalin nầy đều có tính chất gián phân bạch huyết cầu và kích thích mỗi thứ một khác cuộc tăng sinh các tế bào đơn nhân máu ngoại vi. Rõ ràng, Việt Nam không thiếu tay nghề cũng như nguyên liệu.</div><div style="text-align: justify">Tôi nhớ hồi còn nhỏ, mỗi lần nghỉ học về quê là thích ra vườn tìm mít chín. Mùi mít ngon ngọt, khẩu vị khác nhau tùy loại mít ráo, mít ướt, mít mật, mít gai, hột mít nấu chín cũng béo bở lại ngạt ngào hương thơm khi đem nướng. Sau nầy ở Paris, ở cửa trước vườn Luxembourg, những hôm vào thu trời lành lạnh, mua nắm trong tay những hột dẻ vừa mới nướng nóng bỏng, tôi lại tưởng nhớ đến những hột mít mạ tôi nướng trên lò than thơm phức thời xưa, trong lòng mang máng một chuyện cổ tích đã được Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc kể trong sách. Có người cháu gái đến thăm nhà cô, lại thích ăn mít vườn cô. Người cô không muốn cho ăn mít, bảo nấu cơm cho cháu ăn. Người cháu biết ý, lanh miệng "Thôi cô ạ, đừng cơm cơm mít mít chi nữa cho nó phiền" thay vì cơm cơm nước nước. Bất đắc dĩ, cô phải ra vườn hái mít cho cháu nhưng cô chọn một trái vừa nhỏ, vừa sâu, đem bổ cho cháu ăn. Tuy khó nuốt trôi miệng, người cháu cũng khéo miệng "Có gì mà cô ! Có lô gốc mít !". Câu nầy trở thành tục ngữ giễu bà cô keo kiệt.  Cả người cháu lẫn bà cô không dè hột mít có khả năng cống hiến chất thuốc chữa trị chứng bệnh hiểm nghèo nhất vào những thế kỷ 20,21 nầy.</div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">Thông tin Khoa học và Công nghệ (3) (1997) 18-29 có bổ túc</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">Tham khảo</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify">- Encyclopaedia Universalis 10, 266 ; 13, 561 ; 19, 977 ; 20, 1034</div><div style="text-align: justify">- La Recherche 241 (1992) 288 ; 261 (1994) 90 ; 268 (1994) 946 ; 291 (1996) 30</div><div style="text-align: justify">- Le Nouvel Observateur 2265 (3-9 tháng 4 năm 2008) 126</div><div style="text-align: justify"><br /></div><div style="text-align: justify"> </div><div style="text-align: justify">1- P.S. Appukuttan, D. Basu, Four identical subnits in jack fruit seed agglutinin offer only two saccharide binding sites, FEBS Let.r (2)180 (1985) 331-4</div><div style="text-align: justify">2- M.C. Roque-Barreira, A. Campos-Neto, Jacalin : an IgA-binding lectin, J. Immunol. (3)134 (1985) 1740-3</div><div style="text-align: justify">3- P. Aucouturier, E. Mihaesco, C. Mihaesco, J.L. Preud’homme, Characterization of jacalin, the human IgA and IgD binding lectin from jackfruit, Mol. Immunol. (5)24 (1987) 503-11</div><div style="text-align: justify">4- H. Kondoh, K. Kobayashi, H. Hagiwara, A simple procedure for the isolation of human secretory IgA of IgA1 and IgA2 subclass by a jackfruit lectin, jacalin, affinity chromatography, Mol. Immunol. (11)24 (1987) 1219-22</div><div style="text-align: justify">5- H. Hagiwara, D. Collet-Cassart, K. Kobayashi, J.P. Vaerman, Jacalin : isolation, caracterization, and influence of various factors on its interaction with human IgA1, as assessed by precipitation and latex agglutination, Mol. Immunol. (1)25 (1988) 69-83</div><div style="text-align: justify">6- P. Aucouturier, F. Duarte, E. Mihaescao, N. Pineau, J.L. Preud’homme, Jacalin, the human IgA1 and IgD precipitation lectin, also binds IgA2 of both allotypes, J. Immunol. Methods (2)113 (1988) 185-91</div><div style="text-align: justify">7- B.P. Thuan, A.D. Strosberg, J.Hoebeke, Purification and structural properties of the lectins from Tachypleus tridentatus, Lectins-Biol. Biochem, Clin. Biochem. (6) (1988) 405-10</div><div style="text-align: justify">8- N.Q. Khang, A.D. Strosberg, J. Hoebeke, Purification and characterization of the Artocarpus tonkinensis lectin, Lectins-Biol. Biochem., Clin. Biochem. (6) (1988) 341-8</div><div style="text-align: justify">9- K. Kobayashi, H. Kondoh, K. Hagiwara, J.P. Vaerman, Jacalin : chaos in its immmunoglobulin-binding specificity, Mol. Immunol. (10)25 (1988) 1037-8</div><div style="text-align: justify">10- N. Pineau, J.C. Brugier, J.P. Breux, B. Becq-Giraudon, J.M. Descamps, P. Aucouturier, J.L. Preud’homme, Stimulation of peripheral blood lymphocytes of HIV infected patients by jacalin, a lectin mitogenic for human CD4+ lymphocytes,  AIDS 3 (1989) 659-63</div><div style="text-align: justify">11- P. Aucouturier, N. Pineau, J.C. Brugier, E. Mihaesco, F. Duarte, F. Skvaril, J.L. Prud’homme, Jacalin : a new labaratiry tool in immunochemistry and cellular immunology, J. Clin. Labor. Anal. (4)3 (1989) 244-51</div><div style="text-align: justify">12- N.Q. Khang, J.L. Guillaume, J. Hoebeke, A blood group A specific lectin from the  seed of Crotalaria striata, Biochem. Biophys. Acta 1033 (1990) 210-1</div><div style="text-align: justify">13- N. Pineau, P. Aucouturier, J.C. Brugier, J.L. Preud’homme, Jacalin : a lectin mitogenic for human CD4 T lymphocytes, Clin. Exp. Immmunol. 80 (1990) 420-5</div><div style="text-align: justify">14- J. Favero, J. Dornand, P. Corbeau, C. Devaux, M. Nicolas, J.P. Liautard, Medicinal use of jacalin and fragments thereof in particular for treating HIV virus-related diseases, PCT Int. Appl. WO 92 22,574 (1992) 27 tr.</div><div style="text-align: justify">15- D.N. Lien, I.M. Cesari, I. Bouty, D. Bout, J. Hoebeke, Immunocapture assay for quantification of human IgA antibodies to parasite antigenic enzymes. Application with the alkaline phosphatase of Shistosoma mansoni, J. Immunoassay (4)13 (1992) 521-36</div><div style="text-align: justify">16- J. Favero, P. Corbeau, M. Nicolas, M. Benkirane, G. Travé, J.F.P. Dixon, P. Aucouturier, S. Rasheed ; J.W. Parker, J.P. Liautard, C. Devaux, J. Dornand, Inhibition of human immunodefiency virus infection by the lectin jacalin and by a derived peptide showing a sequence similarly with gp120, Eur. J. Immunol. 23 (1993) 179-85</div><div style="text-align: justify">17- D.N. Lien, M. Brillard, J. Hoebeke, The a- and b-subnits of the jacalins are cleavage products from a 17-kDa precursor, Biochem. Biophs. Acta 1156 (1993) 219-22</div><div style="text-align: justify">18- D.N. Lien, M. Brillard, J. Hoebeke, P. Aucouturier, A new a chain of jacalin from jack-fruit seeds of two wild species, C.R. Acad. Sci.III (2)318 (1995) 167-72</div><div style="text-align: justify">19- Y. Wu, D. Zhou, Research on Artocarpus lingnanensis binding proteins of human serum or colostrum, Miannyixue Zazhi (4)11 (1995) 235-7</div><div style="text-align: justify">20- F. Blasco, D. N. Lien, P. Aucouturier, J.L. Preud’homme, A. Barra, Mitogenic activity of new lectins from seeds of wild Artocarpus species from Vietnam, C.R. Acad. Sci.III 319 (1996) 405-9</div><div style="text-align: justify">21- S. Suresh, P. Rani, P. Geetha, J. Pratap, J. Venkatesh, R. Sankaranarayanan, A. Surolia, M. Vijayan, Homology between jacalin and artocarpin from jackfruit (Artocarpus integrifolia) seeds. Partial sequence and preliminary crystallographic studies of artocarpin, Acta Cryst.D Biol. Cryst. (4)D53 (1997) 469-71</div><div style="text-align: justify">22- S. Kabir, Jacalin : a jackfruit (Artocarpus heterophyllus) seed-derivated lectin of versatile applications in immunobiological research, J. Immunol. Methods (2)212 (1998) 193-211</div><div style="text-align: justify">23- A.M. Kerr, L.M. Loomes, B.C. Bonner, A.M. Hutchings, B.W. Bernard, Purification and characterization of human serum secretory IgA1 and IgA2 using jacalin, Methods Mol. Med. 9 (1998) 265-78</div><div style="text-align: justify">24- J.V. Pratap, A.A. Jeyaprakash, P.G. Rani, K. Sekar, A. Surolia, M. Vijayan, Crystal structures of artocarpin, a Moraceae lectin with mannose specificity, and its complex with methy-a-D-mannose : implications to the generation of carbohydrate specificity, J. Mol. Biol. (2)317 (2002) 237-47</div><div style="text-align: justify">25- A.A. Jeyaprakash, P.G. Rani, G.B. Reddy, S. Banumathi, C. Betzel, K. Sekar, A. Surolia, M. Vijayan, Crystal structure of the jacalin-T-antigen complex and a comparative study of lectin-T-antigen compexes, J. Mol. Biol. (4) 321 (2002) 467-45</div><div style="text-align: justify">26- A.A. Jeyaprakash, S. Katiyar, C.P. Swaminathan, K. Sekar, A. Surolia, M. Vijayan, Structural basis of the carbohydrate specificities of jacalin : an X-ray and medeling study, J. Mol. Biol. (1) 332 (2003) 217-28</div><div style="text-align: justify">27- S.M. Lakshmi Tamma, V.S. Kalyanaraman, S. Pahwa, P. Dominguez, R.R. Modesto, The lectin jacalin induces phosphorylation of ERK and JNK  in CD4+T cells, J. Leucocyte Biol.73 (2003) 682-8</div><div style="text-align: justify">28- A.A. Jeyaprakash, G. jayashree, S.K. Mahanta, C.P. Swaminathan, K. Sekar, A. Surolia, M. Vijayan, Structural basis for the energetics of jacalin-sugar interactions : promiscuity versus specificity,  J. Mol. Biol. (1) 347 (2005) 181-8</div><div style="text-align: justify">            ©  http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.org Võ Quang Yến</div><div style="text-align: justify"><br /></div>]]></description>
			<pubDate>Mon, 03 Aug 2009 03:38:39 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Thursday, 30 April 2009 14:23  -  Diệt lăng quăng bằng... vi khuẩn</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=139:dit-lng-qung-bng-vi-khun-&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<p>Dùng vi khuẩn để diệt... lăng quăng. Một nhóm các nhà khoa học tại Viện Pasteur TPHCM vừa nghiên cứu thành công chế phẩm vi sinh từ chủng vi khuẩn Bacillus thuringiensis subsp. israelensis serotype H14 diệt lăng quăng. </p><div style="text-align: center"><img mce_src="http://farm4.static.flickr.com/3395/3488952522_cfa1c2227d.jpg" border="0" width="300" height="219" src="http://farm4.static.flickr.com/3395/3488952522_cfa1c2227d.jpg" /><br /></div><div align="center"></div>Aedes Aegypti, muỗi vằn (muổi cọp châu phi)  thủ phạm bệnh sốt xuất huyết<br /> <br /><img mce_src="http://farm4.static.flickr.com/3336/3489480381_d589552d2b.jpg" border="0" src="http://farm4.static.flickr.com/3336/3489480381_d589552d2b.jpg" /><br />Aedes Albopictus (muỗi vằn, muỗi cọp Á Châu)<br />]]></description>
			<pubDate>Thu, 30 Apr 2009 14:23:43 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 06 April 2009 07:48  -  Siêu âm diệt khuẩn </title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=133:sieu-am-dit-khun-&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<p>Các chuyên gia trong lãnh vực siêu âm đang mở cuộc thảo luận áp dụng siêu âm trong lãnh vực xử lý nước thải khỏi các loại hóa chất và vi khuẩn … Ngành hóa siêu âm là một nhánh rất mới của ngành hóa chất. </p><p>Họ sử dụng loại âm thanh, phát ra từ chiếc còi gọi chó. Âm thanh rất cao, và người không còn nghe thấy, nhưng súc vật như chó vẫn còn nghe được. Và âm thanh này, siêu âm, khi người ta áp dụng đúng cách, chúng có thể tải được rất nhiều năng lượng .. </p>]]></description>
			<pubDate>Mon, 06 Apr 2009 07:48:30 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 09 February 2009 08:54  -  China oil, Peppermint, Mentha x piperita</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=67:china-oil-peppermint-mentha-x-piperita&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Peppermint, Mentha x piperita </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Peppermint là một<span>  </span>cây thuốc và đồng thời là<span>  </span>cây gia vị thuộc dòng mint, Peppermint là giống lai giữa M.aquatica x và M.spicata. Năm 2004 cây Peppermint được bầu làm cây thuốc của năm. (theo viện lịch sử y khoa, đại học Wuerzburg, Germany) <br /><br /></span></p><div style="text-align: center"><img mce_src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/55/Koeh-095.jpg" border="0" width="353" height="410" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/5/55/Koeh-095.jpg" /> </div><p> </p><br /><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Có rất nhiều lọai Mint mọc mọc tự nhiên hoang dã tại Âu Châu, thí dụ như Mint đồng ruộng, hoặc Mint suối. </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Lọai có tác dụng chữa bịnh cao nhất là Mentha x Piperita và lọai này không mọc hoang mà phải trồng. Theo tài liệu thì lọai này đã được phát hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 17 trên cánh đồng trồng mint tại Anh Quốc. Lọai Mint này hiện nay được trồng tại Ấn độ, Trung Quốc, Nhật , bắc và nam Mỹ, </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Cây peppermint mọc hoang tại Anh Quốc và tại Đức. Tại miền nam Đức họ cũng trồng nhiều để sản xuất các lọai dầu gió ( thương hiệu: China Oel), chất lượng rất tốt, cũng như dùng trong công nghệ thực phẩm.</span> </p><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman"> </span> <br /><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Lá peppermint (Folia Menthae x piperitae (Altlatein) Menthae Piperitae folium (Neulatein ) có chứa dầu và được dùng làm trà và gia vị. Hương liệu quan trọng nhất trong peppermint là Menthol. Vì Menthol được hình thành trong lá trong các giai đọan có nắng nhiều, nên họ thu họach Peppermint vào khỏang giữa tháng 8, trước hoặc trong lúc cây bắt đầu trổ bông </span><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Cây mint đã được người Ai cập dùng làm thuốc và gia vị</span> </p><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman"> </span> <p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Cây thuốc: </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Thường peppermint được dùng ở dạng trà, ướp trà hoặc dùng nấu nước tắm. Vị peppermint có vị đắng cũng như các chất anthrocyanogen nên có tác dụng rất nhanh đối với trường hợp đau bụng hoặc rối lọan đường ruột. </span></p><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman"> </span> <p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Nước uống: </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Người Ả Rập và người vùng Bắc Phi <span> </span>dùng cây peppermint ngâm trong trà đường nóng uống rất ngon ( bạn có thể thử, rất thơm và hấp dẫn) . Đây là món uống quốc hồn quốc túy của họ (vào quán người Ả Rập tại Âu châu, lúc nào cũng có món này, hút thuốc Ả Rập, ống điếu nước, cách họat đông như điếu thuốc lào VN) </span></p><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman"> </span> <p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Kẹo </span></p><p style="margin: 0in 0in 0pt" class="MsoNormal"><span style="font-size: 12pt; font-family: Times New Roman">Thường dùng trong kẹo, nhân cho các lọai kẹo chocolate, các thương hiệu kẹo có peppermint là Vivil, PEZ Pfeffi hoặc lọai chocolate nổi tiếng là After Eight <br /><br /></span></p><div align="left" style="text-align: center"><span class="Apple-style-span" style="font-family: Verdana, Arial, sans-serif; font-size: medium; "><a id="phdPromotionHoch_PresentationModeControlsContainer_PresentationHyperLink"><img id="phdPromotionHoch_PresentationModeControlsContainer_PresentationImage" alt="After Eight" border="0" src="http://www.nestle-schokowelt.at/NR/rdonlyres/0B1E7F67-8AA1-4E56-8FF0-E6FFA0BC6519/0/A8_Gewinn_hoch.jpg" /></a></span><br />After Eight , Nestle<br /><img mce_src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/de/thumb/0/0c/Pfefferminze_und_Korsische_Minze.jpg/387px-Pfefferminze_und_Korsische_Minze.jpg" border="0" width="334" height="436" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/de/thumb/0/0c/Pfefferminze_und_Korsische_Minze.jpg/387px-Pfefferminze_und_Korsische_Minze.jpg" /><br /><br /><img mce_src="http://www.kraeuter-kuehne.de/xtc/images/product_images/popup_images/0616.jpg" border="0" src="http://www.kraeuter-kuehne.de/xtc/images/product_images/popup_images/0616.jpg" /><br /><br />Dầu China Oel (100%  peppermint Oil) , sản phẩm Đức, Berlin Germany <br />Dầu China Oel được sản xuất tại Đức. Là dầu thiên nhiên không tạp chất nhân tạo nên có mùi rất dịu, không gắt như các loại dầu khác. Có thể dùng uống (1-2 giọt trong nước nóng khi bị đau bụng) , dùng thoa lên bụng, vùng thái dương, vùng mũi, các vùng da bị muỗi, côn trùng cắn đau ngứa. Ngoài ra có thể dùng xông hơi khi bị cảm, bị gió . Chai lớn có thêm ông hít. (cho vào ống một vài giọt và có thể mang theo người trong túi áo,  dùng hít để thông mũi, thông họng ) <br /><br /><b>Xin liên hệ công ty phân phối tại VN (Công ty Diệp Lục)</b> <br /><br /><img mce_src="http://images.ciao.com/ide/images/products/normal/632/product-2496632.jpg" border="0" src="http://images.ciao.com/ide/images/products/normal/632/product-2496632.jpg" /><br />Tham khảo thêm tại <br /><a mce_href="http://www.china-oel.de/" href="http://www.china-oel.de/"><u><font color="#0000ff">www.china-oel.de</font></u></a> <br />Tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha<br /></div><p> </p>]]></description>
			<pubDate>Mon, 09 Feb 2009 08:54:48 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 09 February 2009 04:52  -  The Use of Ultrasound to Enhance transport</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=63:the-use-of-ultrasound-to-enhancetransport&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<font face="georgia,palatino">Fish culture is a rapidly growing industry. Even faster growth can be expected if we have better control over reproduction, seed storage, growth, and diseases. Despite an availability of a variety of substances with the potential to allow control over processes that facilitate sexual differentiation, preservation of embryos, reproduction, and disease prevention, there is no reliable and efficient method to deliver these substances. Novel techniques such as ultrasound have shown to enhance transport of substances through the skin of both, mammals and fish. This paper summarizes results of some of our original studies to deliver calcein into fish larvae for marking and quantification, to enhance delivery of androgen for sex reversal of tilapia and to enhance permeation of cryoprotectants into embryos for cryopreservation using cavitation level ultrasound.</font>]]></description>
			<pubDate>Mon, 09 Feb 2009 04:52:08 +0100</pubDate>
		</item>
		<item>
			<title>Monday, 09 February 2009 04:38  -  Without chemicals, xử lý tảo xanh trong hồ không ...</title>
			<link>http://www.diepluc.com/portal//index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=61:without-chemicals-x-ly-to-xanh-trong-h-khong-cn-hoa-cht&amp;catid=84:cac-ung-dung&amp;directory=162</link>
			<description><![CDATA[<font size="1"><font size="1"><font face="georgia,palatino">LG SONIC XXL <font size="2"><font size="2">is the strongest algae destroyer on the present world market.</font></font></font><font size="2"><font size="2"><font face="georgia,palatino">  It is developed for LG Sound by experts who made it their goal in life to create the absolute top in the field of algae extermination in water with regard to distance and time.</font> <p align="left"><font face="georgia,palatino">LG Sound guarantees 100% success in the purpose for which this device is produced, killing algae by ultrasonic vibrations.</font></p></font></font></font></font>]]></description>
			<pubDate>Mon, 09 Feb 2009 04:38:05 +0100</pubDate>
		</item>
	</channel>
</rss>
