Saturday, Jul 31st

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Môi trường

Chất Nano xử lý nước thải, hồ cá cảnh bị ô nhiễm

Mô tả sản phẩm 
Hợp chất khoáng thiên nhiên dùng loại trừ các  chất hữu cơ có trong nước như Nitrogen (N), phosphorus (P) , mùi hôi thối, các chất khiến tảo xanh phát triển mạnh 
1. Lọai trừ Nitrogen (N), Phosphorus (P)  hiệu quả 
2. Lọai trừ những chất lơ lửng làm đục nước 
3. Loại trừ tảo xanh và mùi hôi thối trong nước 
4. Ngăn ngừa sự hình thành bùn nổi lên  và ổn định đáy ! 
Đặc tính sản phẩm 
- Làm trong nước qua điện từ hấp thụ các chất bơi lơ lửng trong nước 
- Làm hết mùi hôi trong nước qua sự hấp thụ các khí độc và mùi hôi 
- Làm yếu , hạn chế sự phát triển của vi trùng, vi khuẩn cũng như các lọai nấm 
- Điều chỉnh đô pH 
- Hấp thụ các lọai kim lọai nặng và các chất có tính phóng xạ cao 
- Kích thích các phân tử nước thải ra Oxy hòa tan trong nước ( giảm thiểu COD) 
- Ngăn chặn không cho bùn nổi trở lại trên mặt nước và ổn định đáy hồ 
- Làm trong nước thải, và không ảnh hưởng đến môi trường bằng các chất phụ được tạo ra, cho dù nước thải có bị ô nhiễm nặng 
- Không tạo ra các phản ứng hóa học phụ  vì sản phẩm được làm từ các chất liệu thiên nhiên 
- Lọai trừ Nitrogen (N) , Phosphorus (P) mau lẹ 
 
Thông số 
GMANTOS
  Lọai bột  – Kích cỡ hạt trung bình  10 micro mét 
  Dạng lỏng  – các hạt sản phẩm được Ion hóa và có kích cỡ cấp Nano 

Ứng dụng 
- Sông ngòi, đường sông , làm trong nước 
- Ao, hồ trong sân Golf 
- Dùng xử lý nước biển trước khi tách muối 
- Xử lý nước thải  lần cuối trước khi thải ra sông biển 
- Dùng trong xử lý nước ngành thủy sản , các hồ nuôi cá lớn, nhỏ ) 
 

Cách xử lý tiêu biểu
Khi chúng ta có một hồ cá nhỏ (ngòai trời hay trong nhà) với dung tích khoảng 1 mét khối, để xử lý chúng ta có thể làm như sau: 

Kích cỡ hồ: 1 khối nước có cá 
Hồ: nước hồ trong, có bơm nước lọc đều đặn 
Mục đích ứng dụng: giữ nước trong, ngăn chặn sự phát triển của tảo xanh
Tỉ lệ ứng dụng:   30.000: 1, cho 1 mét khối nước cần 33 g Gmantos
Đợt 1
Chuẩn bị: lấy 990 ml nước sạch, cho vào đó 33 g sản phẩm
Gmantos, lắc đều khỏang 5 phút  (tỉ lệ ở đây là 30:1)

Đổ 990 ml nước có hòa Gmantos vào hồ cá khối lượng 1 mét khối, sau đó dùng cây khuấy để hòa đều vào trong hồ, hoặc chúng ta có thể phun đều trên mặt hồ cá 

Đợt 2
Sau 3 ngày lập lại qui trình trên thêm một lần nữa

Đợt 3
Tỷ lệ 50.000:1 (50.000 lần nước , 1 lần Gmantos) 
1 khối nước cần 20 gr. Gmantos. 
Lần 3 tùy theo mình đánh giá chất lượng nước, khi cảm thấy nước đục và xanh thì hòa 20 gr Gmantos vào 600 ml nước trong và lắc đều , sau đó đổ vào hồ khuấy đều hoặc phu dung dịch lên khắp mặt hồ cá

Lưu ý : nếu khuấy nhiều được thì phản ứng sẽ tốt hơn, khuấy khỏang 1 phút , sau đó nghỉ 1 phút và khuất lại lần thứ 2 


Sản phẩm Hàn Quốc 


...

VERMI-TECHNOLOGY TO RECLAIM SODIC SOIL

 Image VERMI-TECHNOLOGY is an eco-friendly, economic and enduring process to reclaim problem soils, especially the sodic (salt-affected) soils.
It is a more suitable bio-remedial measure than chemical treatment with gypsum and other amendments according to Prof. (Dr.) Sultan Ahmed Ismail, Managing Director, Ecoscience Research Foundation (ERF), Chennai.

In extensive field experiments conducted in the sodic soils of Uttar Pradesh, scientists have established that vermi-technology brought about remarkable change in the soil structure.

Application of compost and earthworm management improved the soil nutrient level and crops such as wheat, rice, spinach, onion and potato grew well in reclaimed sodic soils.

In Uttar Pradesh more than 1.2 million hectares of farmlands are salt-affected, and agricultural productivity remains low. With a view to reclaiming the salt-affected fields and to improve the farm productivity, the Institute of Research in Soil Biology and Biotechnology (IRSBB), New College, Chennai, initiated a project with the Uttar Pradesh Bhumi Sudhar Nigam (UPBSN), Lucknow, in 1996.

Prof. Ismail, the then director of IRSBB and his team of young scientists, successfully completed the five-year project, and concluded that vermi-technology is the most cost-effective and ever lasting solution to reclaim salt-affected fields.

Prof. Ismail, a pioneer in vermi-technology in the country, has been actively involved in solid waste management using vermi-technology and has successfully demonstrated that tannery effluents can be effectively managed using this technology.

His new institution, ERF, is a non-governmental organization (NGO) committed to the popularisation of this low-cost and ecologically sound and farmer-friendly approach for rural livelihood security and sustainable agricultural development.

"About two thousand five hundred species of earth are recorded around the world, and more than five hundred of them can be cultured or used in composting through simple processes. The earthworms can be grown in a host of systems including pits, crates, tanks, concrete rings or any other containers.

The organic material to be used for vermi-composting should be pre-processed or pre-digested through partial anaerobic phase (using a black polythene cover or with a clay seal layer).

The biodung composting technology standardised by Dr. Priti Joshi is highly recommended as a pre-digestion mechanism," said Prof. Ismail.

Diversity of earthworm species varies with different types of soils and hence choosing a local or native species of earthworm for the local soil and for vermi-composting is an important step, according to him. "There is no need to import earthworms from anywhere. Local species of earthworms that are generally used in India are Perionyx excavatusand Lampito mauritii," said Prof. Ismail. The compost pits are to be kept under shade, and they may of any size convenient to the farmers, according to him.
 
 
the hindu

XỬ LÝ NƯỚC THẢI TÔM BẰNG TẢO TETRASELMIS SP

Thạc sĩ Dương Thị Thành, Khoa Môi trường, trường Đại học Bách khoa TP. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu thành công giải pháp mới, dùng tảo Tetraselmis sp để xử lý nước thải nuôi tôm công nghiệp.
alt
 
 
alt
 
Kểt quả bước đầu (trong phòng thí nghiệm) cho thấy, tảo Tetraselmis sp có khả năng làm sạch nước thải nuôi tôm sú. Cụ thể loại tảo này có khả năng hấp thụ N-NH, P-P04, phân huỷ COD...

Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu việc thuần hoá giống tảo này từ trong điều kiện phòng thí nghiệm sang môi trường nước thải nuôi tôm và đã phát triển tốt trên môi trường nước biển.

Sắp tới, tác giả sẽ nghiên cứu thêm khả năng xử lý ô nhiễm nước của loại tảo Tetraselmis sp vào các trại nuôi tôm, nhằm có thể sớm chuyển giao giải pháp này cho các hộ nuôi tôm... 

Viết Dũng (Theo Nhân Dân)

GIẢM TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG DO NUÔI THỦY SẢN NƯỚC NGỌT VÀ TẬN DỤNG NƯỚC THẢI VÀ BÙN ĐÁY AO

Nguồn tin: Lin C.K. and Y. Yi (2003). Minimizing environment impacts of freshwater aquaculture and reuse of pond effluents and mud. Aquaculture 226, 57-68.
Tóm tắt:

Ở Châu Á có nhiều hệ thống nuôi thủy sản đang được áp dụng, chủ yếu là hệ thống nuôi ao bán thâm canh có sử dụng phân bón và nuôi thâm canh cung cấp thức ăn hoàn chỉnh. Bài báo này mô tả nhiều phương pháp khác nhau nhằm làm giảm tối đa tác động của nuôi thủy sản đến môi trường và tái sử dụng nước thải và bùn đáy nhờ một loạt ao thí nghiệm nuôi hầu hết các loài cá thường gặp ở Thái Lan, cá trê lai (Clarias macrocephalus x Clarias gariepinus), và cá rô phi (Oreochromis niloticus). 

Thí nghiệm 1 được thực hiện nhằm mục đích cải thiện hiện quả sử dụng thức ăn nhờ chế độ cho ăn tối ưu để giảm lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho ao nuôi cá rô phi; kết quả không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các tỷ lệ cho cá ăn hàng ngày ở mức 50%, 75% và 100% thỏa mãn nhu cầu ăn của cá, nhưng lượng chất dinh dưỡng thất thoát tăng khi tỷ lệ cho cá ăn tăng. Thí nghiệm thứ 2 nuôi kết hợp cá trê lai trong lồng với cá rô phi nuôi trong ao cho thấy chất dinh dưỡng chính từ nguồn thức ăn cho cá trê lai nuôi thâm canh trong lồng đặt trong ao được cá rô phi nuôi trong ao đó tận dụng một các hiệu quả. Thí nghiệm thứ ba nhằm xác định phương pháp thu hoạch cá và rút nước thích hợp để làm giảm ô nhiễm dinh dưỡng từ ao nuôi cá rô phi; kết quả cho thấy bón vôi cho nước ao một ngày trước khi rút nước và rút nước xuống dần dần cho đến khi còn khoảng 25 cm khi thu hoạch là đạt hiệu quả cao. Một thí nghiệm khác được thực hiện nhằm tận dụng nước thải nước ao cá trê lai làm nguồn phân bón cho lúa cho thấy 32% lượng đạm tổng cộng (TN) và 24% lượng lân tổng cộng (TP) từ nước thải được cây lúa sử dụng với năng suất lúa tương đương lúa được bón phân vô cơ thông thường. Thí nghiệm cuối xác định hiệu quả của việc sử dụng rễ thực vật bậc cao thủy sinh để hút chất dinh dưỡng trong bùn đáy ao. Kết quả cho thấy thực vật bậc cao thủy sinh cá giá trị kinh tế nhu sen (Nelumbo nucifera),đã hấp thu 300 kg nito (N) và 43 kg phospho (P) từ nền đáy ao.

Người dịch: Ts. Lam Mỹ Lan (  This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it ), BM Kỹ thuật nuôi cá nước ngọt, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ
 

CYANOBACTERIA TẠO ĐỘC TỐ

Vào thế kỷ 20 xảy ra các trường hợp bò bị chết bất ngờ trong vùng Alps tại miền nam Âu châu. Khi mổ xẻ xác bò để phám nghiệm họ thấy gan, thận của bò chết bị hư hại. Người ta hoàn toàn mù tịt về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bò chết vào thời điểm đó. Cho đến vài năm gần đây, người ta mới biết được nguyên nhân là  bò chết do ăn nhằm các độc tố tạo ra bởi Cyanobacteria

Bên cạnh các loại độc tố do Cyanobacteria thải ra chúng còn thải ra các chất phụ khác mà qua phân tích  các chất này có cấu tạo  hóa học tương tự như các loại cấu tạo của vũ khí hóa sinh (B/C)

Cyanobacteria
 
Cyanobacteria còn được gọi là Blue algae (tảo xanh), cho dù chúng không có liên quan đến tảo mà thuộc về nhóm bacteria , (procaryota) . Cyanobacteria có đến hàng ngàn loại, sống trong đất, trên gềnh đá, trong nước… Có khoảng 40 loại có khả năng tạo độc tố và khả năng này còn tùy thuộc môi trường phát triển và các yếu tố khác.
Cyanobacteria tạo sự chú ý vào khoảng mùa xuân, mùa hè khi sự phát triển bùng phát và chúng che lấp hết bề mặt của ao hồ.

alt

alt

alt

 
 
 
 
 
 
Planktothrix sp. Bùng phát trên mặt hồ.
 
 

Màu của Cyanobacteria tùy thuộc vào chromophor có thể từ xanh qua đỏ đến vàng ..

 
alt
 
 

Dưới kính hiển vi, Cyanobacteria có hình dạng rất đa dạng, một vài thí dụ:

 
alt
alt
Rivularia sp.
Microcystis sp.
alt
alt
Nostoc sp.
Oscillatoria sp.
alt
alt
Scytonema sp.
Nostoc sp.
alt
alt
Scytonema sp.
Sytonema sp.
 
 

 
 
 
alt
 
Planktothrix Rubescens
 
alt
 
Planktothrix Agardhii
 
alt
 
Microcystis Aeruginosa
 
alt
 
Microcystis Aeruginosa
 
alt
 
Cylindrospermopsis Raciborsk
 
alt
 
Aphanizomenon Sp
 
alt
 
Anabaena Flos Aquae
 
alt
 
Microcystis Aeruginosa
 
alt

Cyanobacteria in the environment

Page 1 of 5

  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  3 
  •  4 
  •  5 
  •  Next 
  •  End 
  • »