Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đang là vấn nạn nhức nhối không chỉ ở Việt Nam mà còn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới.
Việc xử lý chất thải trong sản xuất chăn nuôi là một vấn đề cấp thiết, song xử lý bằng những công cụ, phương pháp, kỹ thuật, công nghệ, … thậm chí “mẹo” gì thì chưa có cơ quan nào hệ thống và hướng dẫn đầy đủ cho người chăn nuôi, nên trong thực tế, ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang hiện hữu một cách thách thức.
Trong các kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi hiện nay mới chỉ thường được nhắc đến công nghệ Biogas, nhưng thực tế thì không phải chỉ có công nghệ khí sinh học là tối ưu, là thay thế được tất cả các phương pháp khác để giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra: Nhược điểm của kỹ thuật này là giá thành đắt, công nghệ nhập từ nhiều nguồn khác nhau hiện nay còn chưa thống nhất, đòi hỏi người sử dụng phải có hiểu biết kỹ thuật, ….
Trong thực tế cũng có nhiều giải pháp truyền thống sử dụng được ngay cho công tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra mà giá thành lại rẻ, dễ sử dụng. Một trong những giải pháp ấy là sử dụng cây Hương Bài, một loài cỏ có thể mọc hoang dễ dàng ở mọi vùng miền trên cả nước.
Loại thực vật này mang nhiều tên gọi khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam, cỏ Vetiver còn được gọi là cỏ Hương Bài hay còn gọi là cỏ Hương lau với nguồn gốc chủ yếu từ Philippine, Thái Lan hoặc thuộc dòng Nam Ấn.

Cỏ Vetiver (tên khoa học là Vetiveria zizanioides thuộc họ Andropogoneae) đã được Ngân hàng thế giới triển khai trồng từ những năm 1980 tại Ấn Độ nhằm mục đích giữ đất và nước. Hơn 20 năm qua, cỏ Vetiver như một loài sinh vật kỳ lạ thu hút các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sức sống mãnh liệt đến đặc biệt của nó.
Đến nay, việc sử dụng hệ thống cỏ Vetiver được nhiều nước khuyến cáo sử dụng như một biện pháp kỹ thuật sinh học nhằm ổn định đất ở các sườn dốc, mái dốc, xử lý nước thải, xử lý những vùng đất ô nhiễm, cải thiện môi trường, …nhiều lợi ích khác như ép lấy tinh dầu dùng làm mỹ phẩm, dược phẩm (sản lượng dầu Vetiver đạt tinh 250 tấn/năm, giá 80-250 USD/kg), làm thức ăn chăn nuôi ở giai đoạn còn non có giá trị tương đương cỏ mật và cỏ Kikuyu, hấp dẫn để tiêu diệt nhiều loài sâu bọ phá hoại hoa màu, ngăn ngừa lớp cỏ dại, giữ đất, nước, cải tạo đất, làm chất độn chuồng, phân xanh, bảo vệ các cồn cát ven biển, làm đồ thủ công mỹ nghệ, lợp nhà, làm gạch, làm dây buộc, làm cây cảnh, ….
Nếu như những năm đầu mọi người biết đến Vetiver là loại cỏ chống xói mòn, giữ đất, nước thì gần đây mọi người lại đang nhắc nhiều đến Vetiver với chức năng xử lý chất thải khá hữu hiệu của nó. Ứng dụng cỏ Vetiver xử lý nước thải là một công nghệ xử lý bằng thực vật được đánh giá là một công nghệ rất mới, sáng tạo và rất có triển vọng. Đây là một biện pháp đơn giản, dễ làm, rất kinh tế, hiệu quả và rất tự nhiên.
Do hiệu quả cao, đơn giản và kinh tế nên hệ thống cỏ Vetiver (Vetiver System – VS) đã được ứng dụng tại hơn 100 nước trên thế giới. VS cải thiện chất lượng nước thải và xử lý nước bị ô nhiễm bằng cách giữ lại bùn đất, còn rác rưởi bị trôi theo dòng nước; Hấp thụ kim lọai nặng và các chất gây ô nhiễm; Khử độc các hóa chất nông, công nghiệp và tiêu thụ lượng lớn nước thải (6,861 lít nước/1 kg sinh khối khô cỏ Vetiver/ngày).
Cỏ Vetiver lần đầu tiên được dùng để xử lý nguồn chất thải từ các nhà vệ sinh ở Australia vào năm 1996 với kết quả cứ trồng 100 khóm cỏ Vetiver/50m2 đủ để tiêu giải hết lượng nước thải từ một khu vệ sinh ở một công viên. Ở Australia và Trung Quốc đã công bố kết quả thực nghiệm trồng 3,5 ha cỏ Vetiver có thể xử lý 4 triệu lít mỗi tháng trong mùa hè và 2 triệu lít mỗi tháng trong mùa đông. Australia đã xử lý rất hiệu quả khối lượng lớn nước thải công nghiệp bằng cỏ Vetiver tới 1,4 triệu lít nước thải/ngày tại một nhà máy chế biến lương thực và 1,4 triệu lít nước thải/ngày tại một lò mổ sản xuất thịt bò.
Cỏ Vetiver có khả năng đặc biệt về xử lý ô nhiễm nước là do nó có thể hấp thụ nhanh chóng các kim loại nặng và các chất dinh dưỡng khác trong nước và có thể chịu được những chất này dù ở hàm lượng rất cao. Tuy hàm lượng những chất này trong cỏ Vetiver nhiều khi không cao như ở một số giống cây siêu tích tụ khác nhưng do nó phát triển rất nhanh và cho năng suất rất cao (năng suất cỏ khô đạt tới 100 tấn/ha/năm) nên cỏ Vetiver có thể tiêu giảm một lượng chất dinh dưỡng và kim loại nặng lớn hơn rất nhiều so với phần lớn các giống cây siêu tích tụ khác.
Riêng về xử lý nước thải cho chăn nuôi, ví dụ ở Quảng Đông – Trung Quốc là một ví dụ rất điển hình. Trung Quốc vốn là một nước nuôi nhiều lợn nhất thế giới, riêng tỉnh Quảng Đông có tới 1.600 trại lợn, trong đó có hơn 130 trại sản xuất hơn 10.000 con lợn thịt mỗi năm. Mỗi trại lợn này xả ra 100 – 150 tấn nước thải mỗi ngày. Cỏ Vetiver đã đồng chiến thắng với cỏ Cyperus Alternifolius trong việc xử lý hữu hiệu lượng nước thải khổng lồ này khi được trồng thử nghiệm ở các bãi ngập nước thải nuôi lợn với 10 giống cỏ khác.
Ở Việt Nam, cỏ Vetiver thực ra đã được du nhập rất lâu những chủ yếu được trồng để lấy tinh dầu. Từ năm 1999, mạng lưới Vetiver Việt Nam do ông Ken Crismier (chuyên gia của Mạng lưới Vetiver quốc tế -TVNI) làm điều phối viên được chính thức thành lập. Đến năm 2001 -2003, sau nhiều thí nghiệm thành công thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải mới cho phép sử dụng cỏ Vetiver vào các mục đích giảm nhẹ thiên tai, chống sạt lở các công trình giao thông.
Tuy nhiên, gần đây đã bước đầu có một số thử nghiệm tại một nhà máy chế biến thủy sản cho kết quả hàm lượng Nitơ tổng số giảm 91% sau 72 giờ và gần đây nhất là công bố của các tác giả Nguyễn Minh Trí, Nguyễn Duy Chinh, Nguyễn Việt Thắng – Trường Đại học Khoa học Huế thì khả năng xử lý nước thải của Vetiver được khẳng định thêm ở Việt Nam và được khuyến cáo sử dụng rộng rãi. Theo kết quả nghiên cứu này, hàm lượng oxy hòa tan (DO) sau xử lý bằng cỏ Vetiver tăng từ 2,95mg/l đến 4,93mg/l trong 12 ngày, hiệu suất đạt tới 67,12%.
Ngược lại nhu cầu oxy hóa học (COD) lại giảm đáng kể, từ 420 mg/l xuống còn 120 mg/l sau 12 ngày xử lý và đã giảm 1,92 lần so với trước khi xử lý. Hàm lượng Ni tơ cũng giảm 1,94 lần, hàm lượng P cũng giảm 2,503 lần so với trước khi xử lý. Nguồn nước sau khi xử lý có giá trị các thông số kỹ thuật hầu hết đạt TCVN 5945 – 2005 loại B, điều này chứng tỏ cỏ Hương Bài có khả năng xử lý chất thải chăn nuôi lợn rất hữu hiệu, rẻ tiền và dễ nhân rộng.
Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam
Xử lý tin:Trọng An
Mùa mưa lũ nghĩ đến loài Cỏ Thần
Vietsciences-Nguyễn Lân Dũng
Vâng , tôi gọi đó là loài Cỏ Thần vì chúng có những đặc tính thần diệu mà ít loài cỏ nào có được. Đó chính là Cỏ Hương bài hay Cỏ Hương lau mà lâu nay còn gọi là Cỏ Vetiver. Tên khoa học của loài cỏ này là Vetiver zizanoides.
Thực ra trong chi Vetiver còn nhiều loài khác cũng phát triển mạnh mẽ lắm nhưng loài V.zizanoides thích hợp hơn với khí hậu nước ta. Cũng phải nhắc đến một loài có thể trồng trong các vùng khô hạn, đó là loài Vetiver nỉgitana.
Ưu điểm thứ nhất là thân cỏ mọc thẳng đứng, có thể cao tới 1,5-2m, lá ken dày đặc, phần gốc đẻ nhánh rất mạnh. Lá dài khoảng 45-100cm, rộng 6-12cm. Khi còn non có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi rất tốt.
Ưu điểm thứ hai là có bộ rễ chùm rất dài, cắm xuống đất sâu tới 3-4m (!), ken dầy với nhau ,làm thành một bức tường vững chãi.
Ưu điểm thứ ba là trong rễ có chứa tinh dầu thơm với lượng chứa cao tới 2-2,5% tính theo trọng lượng khô của rễ. Tinh dầu này dùng để chế tạo ra loại nước hoa Pure Vetiver với giá tới 880 000đồng/125ml. Nếu không dùng để chưng cất tinh dầu thì có thể dùng rễ khô của cỏ này để bện thành các hàng thủ công, mỹ nghệ (quạt cỏ, túi cỏ, nón cỏ, thảm cỏ, đệm cỏ,…)
Ưu điểm thứ tư là mọc theo hàng lối như lúc trồng, không mọc tràn lan như nhiều loài cỏ dại khác , vì chúng có thể tạo nhiều hạt nhưng cây con không mọc từ hạt mà thường được trồng theo phương pháp sinh sản vô tính (tách chồi ra để ươm giống hoặc trồng trực tiếp ra môi trường). Không có khả năng gây nên thảm họa cỏ dại như nhiều loài cỏ phát tán bằng hạt.
Ưu điểm thứ năm là thích nghi rộng rãi trong những điều kiện đất đai rất khác nhau. Có thể mọc cả ở đất ngập nước, đất khô cạn . Tuy nhiên thích hợp nhất là ở những nơi có lượng mưa hàng năm khoảng trên 700mm để sau đó có thể tồn tại suốt thời gian khô hạn, đất chua (tới pH 3,0) hoặc đất kiềm (pH tới 12), đất mặn, đất phèn (!). Chúng chịu đựng tốt với cả úng ngập lẫn khô hạn.Có thể duy trì bền vững độ ẩm của đất
Ưu điểm thứ sáu là thích nghi rộng rãi với các nhiệt độ từ rất lạnh (- 140C) đến rất nóng (480C). Tất nhiên thích hợp nhất là ở nhiệt độ 18-250C.
Ưu điểm thứ bảy là khác với lúa mỳ , lúa nước, loài cỏ này thuộc nhóm thực vật C4 -sản phẩm quang hợp đầu tiên có 4C (acid oxaloacetic), cho năng suất chất xanh cao hơn nhiều so với thực vật C3.
Ưu điểm thư tám là có thể chịu đựng được các kim loại nặng nguy hiểm như Arsenic (tới nồng độ 100-250ppm hay phần triệu), Đồng (50-100ppm), Cadmi (20-60ppm), thủy ngân ( 5ppm), chì…Ngoài ra còn hấp thu tốt các lượng dư thừa Phôtpho, Manhê…Chính vì vậy có thể sử dụng loài cỏ này vào mục đích xử lý các vùng đất và nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng.
Ưu điểm thứ chín là được sử dụng rất có hiệu quả để chống sạt lở trên các ta-luy đất ven các đường quốc lộ (đường bộ, đường sắt), các công thình thủy nông. Cũng thích hợp để chống xói mòn ở các vùng đất dốc vì ngăn cản dòng chảy khi mưa lũ. Người ta gọi hàng rào cỏ Vetiver là tấm thảm bê tông mềm mại.
Ưu điểm thứ mười là tạo nguồn phân hữu cơ rất tốt cho đất. Khi khai thác phần chất xanh trên mặt đất có thể làm phân bón hữu cơ, phần rễ dầy đặc trong đất cũng sẽ bị phân hủy tạo thành nguồn chất mùn (làm nên cấu tượng của đất, giúp đất có độ thoáng thích hợp để giữ nước , không khí và dự trữ thức ăn cho đất).
Giâm chồi (dài 20cm, rễ dài 5cm) vào các túi PE (7 x 5 cm, đường kính 7cm), có chứa hỗn hợp tro trấu, phân chuồng, cám dừa và một ít đất mặt .Cũng có thể ươm trực tiếp tại lối vào của các đập nhỏ hay hồ chứa nước. Nước sẽ tưới cho cỏ , còn cỏ thì thanh lọc phù sa trong nước. Nên trồng thành 2-3 hàng song song qua đường nước chẩy, mỗi hàng cách nhau 30-40cm. Lấy từ chỗ ươm này đi trồng thì nên cắt ngọn cao 5-20cm, cắt rễ còn 10cm. Dùng phân điamôn phôtphat (DAP) để kích thích đâm chồi. Muốn trồng trên nơi cần bảo vệ đất cần trồng thành khóm cách nhau 10cm, trồng theo hàng để tạo vành đai đồng mức. Sau khi trồng 6-7 tháng nên cắt bỏ phần thân ra hoa để cỏ tiếp tục lên cây non.
Cỏ Vetiver đã được trồng thử nghiệm có hiệu quả tại nhiều vùng trong cả nước (Tây Ninh, Tiền Giang, An Giang, Đồng Nai,Cần Thơ, Tây Nguyên ,Thừa Thiên –Huế, Quảng Bình, Thái Bình, Nam Định,dọc đường Hồ Chí Minh…
Có thể nhận giống và hỏi thêm về kỹ thuật tại Viện Nông hóa-Thổ nhưỡng , Viện KHNN miền Nam, ĐH Cần Thơ, ĐH Nông lâm TP Hồ Chí Minh, Công ty Sinh học Nông nghiệp và Thương mại Thiên Sinh (thành phố Hồ Chí Minh)…Có thể liên hệ qua địa chỉ trên mạng
© http://vietsciences.free.fr và http://vietsciences.nvà Nguyễn Lân Dũng
