Thursday, Sep 09th

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Môi trường Biện pháp

Biện pháp

NUÔI VẸM VỎ XANH GÓP PHẦN GIẢM Ô NHIỄM DO TẢO

Vẹm vỏ xanh có đặc tính ăn lọc, chúng ăn thực vật phù du, nên nuôi vẹm vỏ xanh không phải đầu tư thức ăn nhiều lại làm sạch môi trường, giảm được nguy cơ ô nhiễm do tảo sinh ra, nhất là ở các ao đầm nuôi tôm.

Vẹm vỏ xanh là động vật biển thân mềm, thịt thơm ngon, có hàm lượng dinh dưỡng cao, vỏ có tầng ngọc dày dùng để chế biến một số hàng thủ công mỹ nghệ.
Hiện nay có hai hình thức nuôi vẹm vỏ xanh: Nuôi dây treo và nuôi dây quấn trên cọc.
Nuôi dây treo là hình thức treo các dây có vẹm bám vào bè hoặc giàn ở ngoài biển. Nuôi quấn cọc là dùng dây có vẹm bám quấn xung quanh cọc đóng cố định ở bãi triều. Hai hình thức nuôi có những công đoạn chính sau đây.
Chọn điểm nuôi
Dù nuôi dây treo hay quấn dây trên cọc, địa điểm nuôi đều phải có các điều kiện như sau:
- Nơi có độ sâu thích hợp từ -0,5m xuống -1m so với mặt 0 hải đồ (mặt nước ở mức thủy triều ròng nhất có thể xảy ra) hoặc từ tuyến hạ triều đến sâu trên 10m nước.
- Nước biển có độ mặn từ 18‰ - 32‰, thích hợp nhất là 20‰ - 30‰ và độ trong của nước biển từ 2m trở lên.
- Dòng chảy của nước từ 0,2m/s - 0,5m/s.
 
Vật liệu và cấu tạo các bộ phận nuôi vẹm
Nuôi dây treo, gồm các bộ phận:
- Túi chứa giống làm bằng vải màn hoặc lưới cước sợi mịn có mặt lưới mau hay bằng ni-lông. Theo kinh nghiệm, dùng túi bằng ni-lông trơn bóng dễ quan sát, song phải đục các lỗ quanh túi có đường kính 2 - 3mm để nước biển có thể vào túi. Túi dài 30 - 40cm, đường kính túi là 4 - 5cm.
- Dây cho vẹm bám làm bằng sợi ni-lông đường kính 2 - 3cm dài 50cm, một đầu buộc thành khuyết để luôn dây treo.
- Dây treo bằng ni-lông đường kính nhỏ hơn dây vẹm bám, dài 1 - 1,5m, một đầu luồn qua khuyết buộc chặt, đầu kia để buộc vào giàn treo hoặc bè (Hình 1: Túi chưa có giống).
- Giàn treo gồm 4 hoặc 6, 8 cọc tùy theo diện tích giàn nuôi. Các cọc làm bằng gỗ tốt, chịu được nước mặn, mỗi cọc dài từ 2 - 2,5m đường kính 10 - 15cm đóng thẳng đứng theo chiều vuông góc với dòng chảy của nước. Mỗi cọc đóng cách đều nhau 1,5 - 2m. Xà làm bằng gỗ tròn đường kính 10cm, xà dọc dài 1,6 - 2m, xà ngang dài tùy theo chiều dài của giàn nuôi. Các xà liên kết với đầu cọc bằng mối buộc dây thép đường kính 2 - 2,5mm, mỗi xà cách đều nhau 0,8m.
- Nuôi dây quấn cọc, gồm các bộ phận:
- Màng chứa vẹm giống làm bằng xi măng láng nhẵn hoặc bằng nhựa hay ghép bằng gỗ lót ni-lông để giữ được nước. Máng hình thang đáy dưới rộng 0,5m, thành máng cao 0,5m.
- Dây cho vẹm bám làm bằng bẹ dừa hoặc sợi cói (bện như thừng, chão) đường kính của dây 1,5 - 2cm, dài 2 - 3m. Theo kinh nghiệm dùng dây bằng bẹ dừa hoặc cói mềm dễ quấn vào cọc.
- Cọc để quấn dây nuôi vẹm làm bằng gỗ khô, chịu được nước mặn (không dùng gỗ có nhựa đắng, độc và có nhựa tươi). Cọc dài 2 - 2,5m, đường kính 10 - 15cm, đóng sâu xuống nước từ 0,5m trở lên để sóng vỗ không đổ cọc.
 
Kỹ thuật nuôi
- Tạo giống bám vào dây:
+ Đối với dây treo tiến hành như sau: Luồn dây qua túi, buộc chặt một đầu dây vào một đầu túi thả vẹm vào túi. Mỗi túi có thể thả từ 1.000 - 1.500 con vẹm cỡ 0,5 - 1cm sau đó buộc chặt đầu túi thứ hai, đem túi treo vào giàn nuôi, đặt ngập nước.
Sau 5 - 10 ngày quan sát thấy hầu hết vẹm đã bám vào dây thì cắt bỏ túi. Dùng kéo cắt tỉa bớt những con vẹm bám ở chỗ này. Tơ chân của vẹm bám rất chắc và dài như cao su, theo kinh nghiệm không thể dùng tay dứt vẹm ra khỏi dây, nếu làm mạnh ruột vẹm sẽ tuột khỏi vỏ. Những con vẹm được cắt tơ chân được dùng cho vào túi bám ở dây sau. Đem dây có vẹm bám treo vào giàn nuôi.
+ Đối với dây quấn cọc, tiến hành như sau: Đưa nước biển vào máng (nước biển có độ mặn tương đương với độ mặn ở nơi nuôi vẹm), cho sục khí và rải vẹm vào máng, tùy theo chiều dài của dây mà quyết định số lượng vẹm giống. Đặt dây vào máng theo chiều dọc của máng, dây nằm giữa lớp vẹm giống. Sau 3 đến 5 ngày quan sát thấy hầu hết vẹm trong máng đã bám vào dây. Đem dây ra khỏi máng tỉa bớt những chỗ vẹm bám dày, đem dây quấn vào cọc để nuôi. Mỗi cọc có thể quấn từ 1 - 2 dây (Hình 5: Cọc có quấn dây vẹm bám).
 
- Chăm sóc
+ Thường xuyên kiểm tra giàn treo, cọc và dây để kịp thời tu sửa khi có sự cố.
+ Luôn luôn làm vệ sinh dây treo, cột và dây để hạn chế con hà, con sun bám làm đứt dây hoặc kiểm tra cá, ghẹ vào ăn thịt vẹm. Tốt nhất xung quanh giàn nuôi hoặc cọc nuôi căng thêm lưới để chống cá, cua, ghẹ vào ăn thịt vẹm.
Nuôi vẹm ở ao, đầm nuôi tôm cần chú ý: Chu kỳ nuôi tôm ngắn (khoảng 4 - 5 tháng/vụ), trong khi chu kỳ nuôi vẹm dài hơn. Do đó trước khi thu hoạch tôm phải bố trí một ao đầm có đủ điều kiện để di dời vẹm sang nuôi tạm, cho đến khi nuôi tôm vụ 2, đem vẹm trở lại nuôi
 
Thu hoạch vẹm
Vẹm là loài sinh trưởng chậm, sau 1,5 - 2 năm vẹm mới đạt cỡ 80 - 100mm chiều dài. Nuôi vẹm đạt đến cỡ thương phẩm cũng phải sau 1 - 1,5 năm mới thu hoạch. Cách tiến hành như sau: Dùng dao hoặc kéo cắt tơ chân của từng cá thể, không dùng tay dứt.

(T.S) 

CẢI TẠO ĐẤT CẰN, CHẤT GIỮ ẨM ĐẤT

Để giúp cho người nông dân trong tình hình thời tiết khô hạn xảy ra thường xuyên, Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công nghệ Bức xạ đã nghiên cứu và chế tạo thành công một loại sản phẩm mới có tên Gam-Sorb, là một chất bổ xung cho đất. Ngoài mục đích được sử dụng trong nông nghiệp như là một chất giữ nước, điều hòa độ ẩm đất và tăng hiệu suất sử dụng phân bón, sản phẩm này còn được dùng vào mục đích khác như xử lý môi trường, phụ gia trong thức ăn gia súc,…
 
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG “CHẾ PHẨM GIỮ ẨM VÀ ĐIỀU HÒA ĐỘ ẨM ĐẤT”
 
1. Chống hạn:

Dùng 60-120 kg gel/hecta có cỡ hạt 3-5 mm bón trực tiếp vào gốc cây, luống cây ở độ sâu 15-30 cm, lấp đất, tưới nhiều nước ở 1-2 lần đầu hay tận dụng các cơn mưa cuối mùa. Ngoài ra gel này có thể trộn đều với lớp đất bề mặt hay rải đều 1 lớp ở độ sâu vài chục cm hay châm lỗ quanh gốc cây cho gel vào và lấp miệng lỗ trước khi tưới nước nhiều ở 1-2 lần đầu.

 
2. Tiết kiệm nước tưới:

Dùng 60 kg gel/hecta có cỡ hạt 1-3 mm bón trực tiếp vào gốc cây, luống cây ở độsâu 15-30 cm, lấp đất, tưới nhiều nước ở 1-2 lần đầu, sau đó kéo dài thời gian tưới gấp đôi so thời gian tưới bình thường hay giảm 50% lượng nước khi tưới theo chế độ tưới bình thường.

 
3. Chất giữ ẩm trong trồng trọt:

- Cây công nghiệp, cây ăn trái, cây trồng theo mùa vụ năm: Trộn hay phủ đều lớp đất bề mặt của gốc cây hay lấp quanh hố cây ở độ sâu 15-30 cm với lượng 30-60 kg gel/hecta có kích thước 3-5 mm, có thể bón cùng phân bón lót khoảng 800 kg/hecta vào thời điểm gần cuối mùa mưa hay tưới 1-2 lần đầu cho thấm đất và để gel ngậm nước rồi ngưng hay giảm tưới.

 
- Cây kiểng: Trộn đều lớp đất trồng cây hay đất lấp chỗ trống giữa chậu và thành chậu hay đào lỗ nhỏ xung quanh gốc ở độ sâu 3-30 cm với lượng gel có kích thước 3-5 mm chiếm 0,25-0,5 % so với trọng lượng hay thể tích giá thể lót vào chậu, rồi tưới nước 1-2 lần đầu bình thường, sau đó giảm lượng nước tưới hay ngưng tưới cho đến khi tưới định kỳ có thời gian giữa hai lần tưới tăng gấp đôi (ví dụ trước đây tưới 2 ngày/lần, sau khi thêm gel tưới 4 ngày/lần).
 
- Cây hoa và cây rau ngắn ngày: Rải đều 40-50 kg gel/hecta có kích thước 1-3 mm ở độ sâu 10 cm, lấp đất, trồng cây (cây con, gieo hạt), tưới nước.
 
- Cây cỏ (sân gôn, bóng đá, sân vườn,…): Rải đều 120 kg gel/ha có kích thước 1-3 mm, gieo hạt dùng bừa lấp hay kéo đất phủ ở độ sâu 3 cm; nếu trồng cỏ mảng chỉ đơn giản đặt lên trên vùng đã san bằng và rải gel không cần bừa lấp.
 
- Cây rễ trần, cây con: Nhúng rễ vào gel trương trong nước có kích thước <0,5 mm theo lượng 1 kg gel/150 lít nước, trồng vào chậu, ở đồng ruộng hay vận chuyển xa.
 
- Gieo hạt: Trải gel hấp thụ nước có kích thước 1-3 mm một lượng 45-50 kg gel/

hecta ở độ sâu 3cm của lớp đất bề mặt. Trộn 1 kg gel có kích thước <0,5 mm trong 150 lít nước cho 50 kg hạt giống rồi gieo/ phun hạt hay phủ tấm phủ nilon (mulch) rồi gieo hạt.

 
- Nảy mầm hạt giống: Trộn 1 kg gel có kích thước <0,5 mm trong 150 lít nước cho 50 kg hạt giống rồi để nảy mầm theo đặc điểm của từng loại hạt giống. Có thể trộn 1 kg gel khô có kích thước <0,5 mm với 1 m3 môi trường nảy mầm (đất, giá thể,…), sau đó hạt giống, mùn, phân bón được trộn cùng hỗn hợp trên, đặt trong một hệ làm ẩm để kiểm soát quá trình nảy mầm: kết quả nảy mầm nhanh hơn và tỉ lệ nảy mầm cao. Nếu trộn gel khô có kích thước <0,5 mm với hạt giống để phủ hạt trước khi trồng ở tỉ lệ 1 kg gel/100 kg hạt giống sẽ giữ hạt giống nảy mầm tốt hơn.
 
- Hoa cắt cành: Gel hấp thụ nước có kích thước <0,5 mm chứa trong các túi vải hay loại vật liệu có tính thẩm thấu nước [ngấm nước như giấy lọc hay túi sợi visco (trà túi lọc)] , khi dùng nhúng vào nước 30-40 phút, rồi cắm hoa cắt cành theo bó, đặt trong các thiết bị làm mát (container, xe lạnh, buồng lạnh) để bảo quản hoa tươi lâu và vận chuyển dài ngày.
 
4. Bón kết hợp với phân bón hữu cơ hay vi sinh:

Dùng 30-60 kg gel/ha cỡ hạt < 0,5 mm, trộn đều với phân bón một lượng 800 kg/ha cho bón lót hay bổ sung phân bón cho đất để tăng độ xốp, tăng dinh dưỡng cho cây. Có thể bón theo gốc, theo luống hay rải đều một lớp trước khi phủ một lớp đất bề mặt có độ dày vài chục cm, bón cuối mùa mưa. Phương pháp canh tác này còn phù hợp cho cải tạo đất thoái hóa, làm cho đất xốp, thoáng, giữ ẩm và tăng cường dinh dưỡng cho cây và tăng năng suất cây trồng. Mặt khác, gel này còn có thể bón cùng các loại phân khác như N-P-K, phân Urê, hócmôn sinh trưởng,v.v..

 
Sản xuất từ tinh bột củ sắn (củ khoai mì) và thành phần polymer có hàm lượng Kali (Kalium)
Thân thiện với môi trường, cải tạo đất khô cằn và làm đất tơi xốp, khi trộn đều với đất.
Xin liên hệ: 
Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ
202 A street 11 , Ward Linh Xuan, Thu Duc Dist.
Fone: Mr Doan Binh :  091 38 46 982


Sản phẩm chất giữ nước

Chất giữ nước, dạng khô  


Sau khi cho nước vào, hạt bắt đầu hút nước


hạt ngậm nước hòan tòan và phồng lên


Hạt giữ ẩm được trộn chung với đất, dùng trồng kiểng, hoa


Những hạt ngậm nước, đất dính quanh và đất được giữ ẩm


 Ghi Chú thêm: 
Tại Đức có một sản phẩm tương tự dùng để cải tạo đất sa mạc, rất tốt!  Với sản phẩm VN này, chúng ta cũng có thể đưa vào ứng dụng cho đât đai và môi trường tại Việt Nam, chúng ta sẽ tiết kiệm đươc nhiều công sức và nước tưới khi trời quá nắng và quá khô

Xử lý môi trường trong chăn nuôi

Chăn nuôi là một ngành đặc biệt quan trọng bởi cung cấp cho con người nguồn thực phẩm: trứng, sữa, thịt... là nhu cầu thiết yếu của con người. Do vậy, để chăn nuôi phát triển vững mạnh đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết của cuộc sống, thì công tác xử lý môi trường trong chăn nuôi phải được thực hiện tốt và triệt để. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số biện pháp nhằm đảm bảo môi trường trong chăn nuôi như sau: 

1. Lựa chọn vị trí xây dựng chuồng trại hợp lý: 

Chuồng nuôi xây dựng phải được đảm bảo mỹ quan, tách biệt với nơi sinh hoạt của con người, không bị gió lùa; thuận tiện cho quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phải giữ ấm vào mùa đông, mát về mùa hè, thuận tiện về nguồn nước và tiện cho công tác thu gom xử lý chất thải. Chuồng trại phải được xây xa đường giao thông chính, tránh được tiếng ồn và những hoạt động qua lại của con người. 

2. Mật độ và diện tích chuồng nuôi: 

Mật độ nuôi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và sức đề kháng bệnh của vật nuôi, song hầu như ít được tuân thủ một cách nghiêm ngặt trong tổ chức bố trí sản xuất, do đó đã tạo ra một môi trường kém về độ thông thoáng, dễ phát sinh dịch bệnh và khả năng lây nhiễm bệnh cao. 
Đối với từng loại gia súc, gia cầm đều có những khuyến cáo quy định về những khuyến cáo quy định về mật độ chăn nuôi và diện tích tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất đạt tối ưu. Đối với đại gia súc mật độ nuôi nên đảm bảo từ 3 -5m2/con, tiểu gia súc từ 0,5 -2m2/con, gia cầm 9-10con/m2 đối với gà thịt và 4-5con/m2 đối với gà giống. 

3. Bố trí, sắp xếp các dãy chuồng nuôi hợp lý 

Trong một trang trại chăn nuôi hoặc một hộ sản xuất khi xây dựng chuồng trại cần đảm bảo khoảng cách tối thiểu giữa các dãy chuồng từ 5 - 7m, như vậy sẽ thuận tiện trong quá trình sản xuất, dễ áp dụng các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, thuận tiện cho việc cách ly để điều trị khi có dịch bệnh xảy ra và phân tách được các lứa tuổi vật nuôi theo từng dãy chuồng. Thông thường đối với nông hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ thì chuồng nuôi nên chia thành các ngăn để thuận tiện cho việc thực hiện các biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng và công tác phòng trị bệnh. 

4. Xây dựng công trình xử lý chất thải 

- Đối với chăn nuôi quy mô lớn và theo phương thức công nghiệp nên xây hầm Biogas là biện pháp hữu hiệu để xử lý chất thải và tận dụng được nguồn chất đốt cho sinh hoạt. 
- Đối với chăn nuôi quy mô nông hộ nhỏ lẻ thì trong quy hoạch chuồng nuôi phải xây dựng bể chứa chất thải lỏng và ủ phân. Hàng ngày tiến hành thu gom phân rác để tập trung về hố ủ hoai mục trước khi sử dụng bón cho cây trồng (xử lý phân và các chất thải rắn bằng cách trộn lẫn với vôi bột + đất bột + phân lân + lá phân xanh hoặc trấu, ủ hoai mục). Nền chuồng nuôi và hố xử lý chất thải phải được xây và láng xi măng để dễ dàng cho quá trình cọ rửa vệ sinh và tránh được sự thẩm thấu chất lỏng ra ngoài môi trường, tạo được độ yếm khí của hố ủ, giúp phân chóng hoai mục. Đối với chất thải lỏng tiến hành xử lý tại bể chứa bằng vôi bột hoặc các chất hoá học sát trùng trước khi dẫn ra ao nuôi các hoặc tưới nước cho cây trồng (ngoài ra có thể xây dựng hệ thống bể lắng lọc có trồng cỏ thuỷ sinh và bèo tây để xử lý). 

5. Công tác vệ sinh chuồng trại 

Ngoài việc hàng ngày tiến hành dọn vệ sinh phân rác và nước tiêu vật nuôi, thì cần định kỳ hàng tuần quy định 1 ngày thực hiện tổng vệ sinh chuồng trại và khu vực chăn nuôi, thu gom rác về nơi quy định để đốt và phun khử trùng khu vực chăn nuôi bằng thuốc sát trùng để tiêu diệt nguồn mầm bệnh cư trú hoặc tiềm ẩn trong môi trường. 

6. Trồng cây xanh 

Xung quanh khu vực chăn nuôi tiến hành trồng cây xanh để tạo bóng mát và chắn được gió lạnh, gió nóng, ngoài ra cây xanh còn quang hợp hút khí CO2 và thải khí O2 rất tốt cho môi trường chăn nuôi. Nên trồng các loại cây như: nhãn, vải, keo dậu, muồng…. 
Như vậy, công tác xử lý môi trường trong chăn nuôi là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm vật nuôi, giữ gìn môi trường sinh thái. Tuy nguồn chất thải của vật nuôi có những ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và hiệu quả chăn nuôi xong bên cạnh đó nếu chúng ta tuân thủ và xử lý triệt để nguồn chất thải thì đây là nguồn phân hữu cơ chủ yếu để phục vụ cho ngành trồng trọt, góp phần đẩy mạnh phát triển song song giữa trồng trọt và chăn nuôi, tạo ra môi trường trong sạch và bảo vệ sức khoẻ con người.

Đặng Thành Trung - Trung tâm KN Yên Bái

Cỏ Hương Bài - Giải pháp xử lý mới chất thải chăn nuôi

Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đang là vấn nạn nhức nhối không chỉ ở Việt Nam mà còn tồn tại ở nhiều nước trên thế giới.
 
Việc xử lý chất thải trong sản xuất chăn nuôi là một vấn đề cấp thiết, song xử lý bằng những công cụ, phương pháp, kỹ thuật, công nghệ, … thậm chí “mẹo” gì thì chưa có cơ quan nào hệ thống và hướng dẫn đầy đủ cho người chăn nuôi, nên trong thực tế, ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang hiện hữu một cách thách thức.
Trong các kỹ thuật xử lý chất thải chăn nuôi hiện nay mới chỉ thường được nhắc đến công nghệ Biogas, nhưng thực tế thì không phải chỉ có công nghệ khí sinh học là tối ưu, là thay thế được tất cả các phương pháp khác để giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra: Nhược điểm của kỹ thuật này là giá thành đắt, công nghệ nhập từ nhiều nguồn khác nhau hiện nay còn chưa thống nhất, đòi hỏi người sử dụng phải có hiểu biết kỹ thuật, ….
Trong thực tế cũng có nhiều giải pháp truyền thống sử dụng được ngay cho công tác giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây ra mà giá thành lại rẻ, dễ sử dụng. Một trong những giải pháp ấy là sử dụng cây Hương Bài, một loài cỏ có thể mọc hoang dễ dàng ở mọi vùng miền trên cả nước.
Loại thực vật này mang nhiều tên gọi khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Ở Việt Nam, cỏ Vetiver còn được gọi là cỏ Hương Bài hay còn gọi là cỏ Hương lau với nguồn gốc chủ yếu từ Philippine, Thái Lan hoặc thuộc dòng Nam Ấn.

Cỏ Vetiver (tên khoa học là Vetiveria zizanioides thuộc họ Andropogoneae) đã được Ngân hàng thế giới triển khai trồng từ những năm 1980 tại Ấn Độ nhằm mục đích giữ đất và nước. Hơn 20 năm qua, cỏ Vetiver như một loài sinh vật kỳ lạ thu hút các nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về sức sống mãnh liệt đến đặc biệt của nó.
Đến nay, việc sử dụng hệ thống cỏ Vetiver được nhiều nước khuyến cáo sử dụng như một biện pháp kỹ thuật sinh học nhằm ổn định đất ở các sườn dốc, mái dốc, xử lý nước thải, xử lý những vùng đất ô nhiễm, cải thiện môi trường, …nhiều lợi ích khác như ép lấy tinh dầu dùng làm mỹ phẩm, dược phẩm (sản lượng dầu Vetiver đạt tinh 250 tấn/năm, giá 80-250 USD/kg), làm thức ăn chăn nuôi ở giai đoạn còn non có giá trị tương đương cỏ mật và cỏ Kikuyu, hấp dẫn để tiêu diệt nhiều loài sâu bọ phá hoại hoa màu, ngăn ngừa lớp cỏ dại, giữ đất, nước, cải tạo đất, làm chất độn chuồng, phân xanh, bảo vệ các cồn cát ven biển, làm đồ thủ công mỹ nghệ, lợp nhà, làm gạch, làm dây buộc, làm cây cảnh, ….
Nếu như những năm đầu mọi người biết đến Vetiver là loại cỏ chống xói mòn, giữ đất, nước thì gần đây mọi người lại đang nhắc nhiều đến Vetiver với chức năng xử lý chất thải khá hữu hiệu của nó. Ứng dụng cỏ Vetiver xử lý nước thải là một công nghệ xử lý bằng thực vật được đánh giá là một công nghệ  rất mới, sáng tạo và rất có triển vọng. Đây là một biện pháp đơn giản, dễ làm, rất kinh tế, hiệu quả và rất tự nhiên.
Do hiệu quả cao, đơn giản và kinh tế nên hệ thống cỏ Vetiver (Vetiver System – VS) đã được ứng dụng tại hơn 100 nước trên thế giới. VS cải thiện chất lượng nước thải và xử lý nước bị ô nhiễm bằng cách giữ lại bùn đất, còn rác rưởi bị trôi theo dòng nước; Hấp thụ kim lọai nặng và các chất gây ô nhiễm; Khử độc các hóa chất nông, công nghiệp và tiêu thụ lượng lớn nước thải (6,861 lít nước/1 kg sinh khối khô cỏ Vetiver/ngày).
Cỏ Vetiver lần đầu tiên được dùng để xử lý nguồn chất thải từ các nhà vệ sinh ở Australia vào năm 1996 với kết quả cứ trồng 100 khóm cỏ Vetiver/50m2 đủ để tiêu giải hết lượng nước thải từ một khu vệ sinh ở một công viên. Ở Australia và Trung Quốc đã công bố kết quả thực nghiệm trồng 3,5 ha cỏ Vetiver có thể xử lý 4 triệu lít mỗi tháng trong mùa hè và 2 triệu lít mỗi tháng trong mùa đông. Australia đã xử lý rất hiệu quả khối lượng lớn nước thải công nghiệp bằng cỏ Vetiver tới 1,4 triệu lít nước thải/ngày tại một nhà máy chế biến lương thực và 1,4 triệu lít nước thải/ngày tại một lò mổ sản xuất thịt bò.
Cỏ Vetiver có khả năng đặc biệt về xử lý ô nhiễm nước là do nó có thể hấp thụ nhanh chóng các kim loại nặng và các chất dinh dưỡng khác trong nước và có thể chịu được những chất này dù ở hàm lượng rất cao. Tuy hàm lượng những chất này trong cỏ Vetiver nhiều khi không cao như ở một số giống cây siêu tích tụ khác nhưng do nó phát triển rất nhanh và cho năng suất rất cao (năng suất cỏ khô đạt tới 100 tấn/ha/năm) nên cỏ Vetiver có thể tiêu giảm một lượng chất dinh dưỡng và kim loại nặng lớn hơn rất nhiều so với phần lớn các giống cây siêu tích tụ khác.


Riêng về xử lý nước thải cho chăn nuôi, ví dụ ở Quảng Đông – Trung Quốc là một ví dụ rất điển hình. Trung Quốc vốn là một nước nuôi nhiều lợn nhất thế giới, riêng tỉnh Quảng Đông có tới 1.600 trại lợn, trong đó có hơn 130 trại sản xuất hơn 10.000 con lợn thịt mỗi năm. Mỗi trại lợn này xả ra 100 – 150 tấn nước thải mỗi ngày. Cỏ Vetiver đã đồng chiến thắng với cỏ Cyperus Alternifolius trong việc xử lý hữu hiệu lượng nước thải khổng lồ này khi được trồng thử nghiệm ở các bãi ngập nước thải nuôi lợn với 10 giống cỏ khác. 
Ở Việt Nam, cỏ Vetiver thực ra đã được du nhập rất lâu những chủ yếu được trồng để lấy tinh dầu. Từ năm 1999, mạng lưới Vetiver Việt Nam do ông Ken Crismier (chuyên gia của Mạng lưới Vetiver quốc tế -TVNI) làm điều phối viên được chính thức thành lập. Đến năm 2001 -2003, sau nhiều thí nghiệm thành công thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải  mới cho phép sử dụng cỏ Vetiver vào các mục đích giảm nhẹ thiên tai, chống sạt lở các công trình giao thông.
Tuy nhiên, gần đây đã bước đầu có một số thử nghiệm tại một nhà máy chế biến thủy sản cho kết quả hàm lượng Nitơ tổng số giảm 91% sau 72 giờ và gần đây nhất là công bố của các tác giả Nguyễn Minh Trí, Nguyễn Duy Chinh, Nguyễn Việt Thắng – Trường Đại học Khoa học Huế thì khả năng xử lý nước thải của Vetiver được khẳng định thêm ở Việt Nam và được khuyến cáo sử dụng rộng rãi. Theo kết quả nghiên cứu này, hàm lượng oxy hòa tan (DO) sau xử lý bằng cỏ Vetiver tăng từ 2,95mg/l đến 4,93mg/l trong 12 ngày, hiệu suất đạt tới 67,12%.
Ngược lại nhu cầu oxy hóa học (COD) lại giảm đáng kể, từ 420 mg/l xuống còn 120 mg/l sau 12 ngày xử lý và đã giảm 1,92 lần so với trước khi xử lý. Hàm lượng Ni tơ cũng giảm 1,94 lần, hàm lượng P cũng giảm 2,503 lần so với trước khi xử lý. Nguồn nước sau khi xử lý có giá trị các thông số kỹ thuật hầu hết đạt TCVN 5945 – 2005 loại B, điều này chứng tỏ cỏ Hương Bài có khả năng xử lý chất thải chăn nuôi lợn rất hữu hiệu, rẻ tiền và dễ nhân rộng.
Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam
Xử lý tin:Trọng An




Mùa mưa lũ nghĩ đến loài Cỏ Thần

Vietsciences-Nguyễn Lân Dũng
Vâng , tôi gọi đó là loài Cỏ Thần vì chúng có những đặc tính thần diệu mà ít loài cỏ nào có được. Đó chính là Cỏ Hương bài hay Cỏ Hương lau mà lâu nay còn gọi là Cỏ Vetiver. Tên khoa học của loài cỏ này là Vetiver zizanoides.
Thực ra trong chi Vetiver còn nhiều loài khác cũng phát triển mạnh mẽ lắm nhưng loài V.zizanoides thích hợp hơn với khí hậu nước ta. Cũng phải nhắc đến một loài có thể trồng trong các vùng khô hạn, đó là loài Vetiver nỉgitana.
Ưu điểm thứ nhất là thân cỏ mọc thẳng đứng, có thể cao tới 1,5-2m, lá ken dày đặc, phần gốc đẻ nhánh rất mạnh. Lá dài khoảng 45-100cm, rộng 6-12cm. Khi còn non có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi rất tốt.
Ưu điểm thứ hai là có bộ rễ chùm rất dài, cắm xuống đất sâu tới 3-4m (!), ken dầy với nhau ,làm thành một bức tường vững chãi.
Ưu điểm thứ ba là trong rễ có chứa tinh dầu thơm với lượng chứa cao tới 2-2,5% tính theo trọng lượng khô của rễ. Tinh dầu này dùng để chế tạo ra loại nước hoa Pure Vetiver với giá tới 880 000đồng/125ml. Nếu không dùng để chưng cất tinh dầu thì có thể dùng rễ khô của cỏ này để bện thành các hàng thủ công, mỹ nghệ (quạt cỏ, túi cỏ, nón cỏ, thảm cỏ, đệm cỏ,…)
Ưu điểm thứ tư là mọc theo hàng lối như lúc trồng, không mọc tràn lan như nhiều loài cỏ dại khác , vì chúng có thể tạo nhiều hạt nhưng cây con không mọc từ hạt mà thường được trồng theo phương pháp sinh sản vô tính (tách chồi ra để ươm giống hoặc trồng trực tiếp ra môi trường). Không có khả năng gây nên thảm họa cỏ dại như nhiều loài cỏ phát tán bằng hạt.
Ưu điểm thứ năm là thích nghi rộng rãi trong những điều kiện đất đai rất khác nhau. Có thể mọc cả ở đất ngập nước, đất khô cạn . Tuy nhiên thích hợp nhất là ở những nơi có lượng mưa hàng năm khoảng trên 700mm để sau đó có thể tồn tại suốt thời gian khô hạn, đất chua (tới pH 3,0) hoặc đất kiềm (pH tới 12), đất mặn, đất phèn (!). Chúng chịu đựng tốt với cả úng ngập lẫn khô hạn.Có thể duy trì bền vững độ ẩm của đất
Ưu điểm thứ sáu là thích nghi rộng rãi với các nhiệt độ từ rất lạnh (- 140C) đến rất nóng (480C). Tất nhiên thích hợp nhất là ở nhiệt độ 18-250C.
Ưu điểm thứ bảy là khác với lúa mỳ , lúa nước, loài cỏ này thuộc nhóm thực vật C4 -sản phẩm quang hợp đầu tiên có 4C (acid oxaloacetic), cho năng suất chất xanh cao hơn nhiều so với thực vật C3.
Ưu điểm thư tám là có thể chịu đựng được các kim loại nặng nguy hiểm như Arsenic (tới nồng độ 100-250ppm hay phần triệu), Đồng (50-100ppm), Cadmi (20-60ppm), thủy ngân ( 5ppm), chì…Ngoài ra còn hấp thu tốt các lượng dư thừa Phôtpho, Manhê…Chính vì vậy có thể sử dụng loài cỏ này vào mục đích xử lý các vùng đất và nước bị ô nhiễm bởi kim loại nặng.
Ưu điểm thứ chín là được sử dụng rất có hiệu quả để chống sạt lở trên các ta-luy đất ven các đường quốc lộ (đường bộ, đường sắt), các công thình thủy nông. Cũng thích hợp để chống xói mòn ở các vùng đất dốc vì ngăn cản dòng chảy khi mưa lũ. Người ta gọi hàng rào cỏ Vetiver là tấm thảm bê tông mềm mại.
Ưu điểm thứ mười là tạo nguồn phân hữu cơ rất tốt cho đất. Khi khai thác phần chất xanh trên mặt đất có thể làm phân bón hữu cơ, phần rễ dầy đặc trong đất cũng sẽ bị phân hủy tạo thành nguồn chất mùn (làm nên cấu tượng của đất, giúp đất có độ thoáng thích hợp để giữ nước , không khí và dự trữ thức ăn cho đất).
Giâm chồi (dài 20cm, rễ dài 5cm) vào các túi PE  (7 x 5 cm, đường kính 7cm), có chứa hỗn hợp tro trấu, phân chuồng, cám dừa và một ít đất mặt .Cũng có thể ươm trực tiếp tại lối vào của các đập nhỏ hay hồ chứa nước. Nước sẽ tưới cho cỏ , còn cỏ thì thanh lọc phù sa trong nước. Nên trồng thành 2-3 hàng song song qua đường nước chẩy, mỗi hàng cách nhau 30-40cm. Lấy từ chỗ ươm này đi trồng thì nên cắt ngọn cao 5-20cm, cắt rễ còn 10cm. Dùng phân điamôn phôtphat (DAP) để kích thích đâm chồi. Muốn trồng trên nơi cần bảo vệ đất cần trồng thành khóm cách nhau 10cm, trồng theo hàng để tạo vành đai đồng mức. Sau khi trồng 6-7 tháng nên cắt bỏ phần thân ra hoa để cỏ tiếp tục lên cây non.
Cỏ Vetiver đã được trồng thử nghiệm có hiệu quả tại nhiều vùng trong cả nước (Tây Ninh, Tiền Giang, An Giang, Đồng Nai,Cần Thơ, Tây Nguyên ,Thừa Thiên –Huế, Quảng Bình, Thái Bình, Nam Định,dọc đường Hồ Chí Minh…
Có thể nhận giống và hỏi thêm về kỹ thuật tại Viện Nông hóa-Thổ nhưỡng , Viện KHNN miền Nam, ĐH Cần Thơ, ĐH Nông lâm TP Hồ Chí Minh, Công ty Sinh học Nông nghiệp và Thương mại Thiên Sinh (thành phố Hồ Chí Minh)…Có thể liên hệ qua địa chỉ trên mạng 
 © http://vietsciences.free.fr  và http://vietsciences.nvà  Nguyễn Lân Dũng

Bèo hoa dâu, chất phân xanh

Ghét cụm bèo trôi che bóng nước,
Giận chùm mây nối khuất vành trăng.
Ưng Bình Thúc Giạ Thị

Azolla pinnata 
Tục truyền vào thế kỷ 12, thời nhà Lý, sư ông Khổng Minh Không một hôm gánh bèo dâu đi ngang qua sông Hồng vô ý đánh rơi mấy bó. Những dân quanh vùng, ở các làng Búng, Bích Du, La Vân, tỉnh Thái Bình, ngày nay được xem như là "quê hương" bèo dâu, lượm về đem trồng làm phân bón ruộng, kết quả vô cùng mỹ mãn. Nhớ ơn nhà sư, từ thế kỷ 17 họ lập đền thờ phụng, ngày nay ở làng La Vân vẫn còn (7). Họ còn bán bèo qua các làng lân cận. Thấy vậy nhiều làng khác cũng muốn sản xuất nhưng không làm được. Có người nông dân cuốc bộ hơn trăm cây số để mua cho được một bó. Chủ nhân một nguồn lợi tức đem lại khá nhiều tiền, dân các làng may mắn nầy kiếm đủ mọi cách để giữ độc quyền. Các cô gái làng khác về làm dâu phải thề không tiết lộ cho bất cứ ai biết bí mật nuôi trồng. Còn các cô gái trong làng, nay mai sẽ đi làm dâu làng khác, thì không được phép biết một chút gì về kỹ thuật sản xuất. Hơn nữa, để tránh mọi hớ hên, hỡ chuyện, họ còn đặt bày ra một thần bèo rất nghiêm khắc, có quyền lực vật chết bất cứ ai tiết lộ bí mật nuôi trồng bèo (5).
Tuy nhiên, bí mật có giữ kín bao nhiêu rồi cũng có ngày bị phát giác. Câu chuyện bắt đầu với một sinh viên nông học trẻ tuổi, anh Nguyễn Công Tiễu, quê người Hưng Yên, cạnh Thái Bình. Năm 1921, anh lấy bèo dâu làm đề tài khảo cứu. Mất nhiều công của, thì giờ, cuối cùng anh biết được nguyên tắc phân bón của bèo dâu và qua năm 1929, đem trình bày kết quả ở Hội nghị Khoa học lần thứ 4 vùng Thái Bình Dương ở Java. Hơn nữa, như là phần thưởng dành cho người có chí, một nông dân làng La Vân, nơi có tiếng giữ gìn kín đáo bí mật nhất, lại kể cho anh nghe những chi tiết kỹ thuật nuôi trồng bèo dâu. Anh liền cho đăng ngay trên báo Khoa học (số 32,1932). Sách báo của nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu (1) trên những đề tài dân dụng như dầu cà cuống, bèo hoa dâu ngày nay đã được phổ biến (5).
        
 

 Nhìn từ trên (5)                      Phóng đại 4 lần (5)

Cộng sinh bèo dâu-rong lam
 
Qua Nguyễn Công Tiễu, người ta biết được bèo dâu làm phân bón ruộng tốt nhờ khả năng cố định chất đạm N2 mà tính chất nầy lại do một vi khuẩn sống cộng sinh với nó thực hiện. Cộng sinh (symbiose, ghép hai danh từ Hy Lạp sun : với, bios : sống) là trạng thái hai sinh vật khác loại sống kết hợp chặt chẽ và thăng bằng với nhau để đôi bên đều có lợi. Trong trường hợp nầy, rong đem lại chất đạm cho bèo, trái lại bèo cung cấp chất dinh dưỡng như glucid cho rong. Nhỏ li ti, trông giống hoa cây dâu, lá kết với nhau trên mặt nước thành hình tam giác, bèo hoa dâu hay bèo dâu Azolla pinnata R. Brown gồm có hai chi A. pinnata imbricata và A. pinnata pinnata. Thuộc họ Bèo tai chuột Salviniaceae (Tự điển Larousse) hay họ Bèo dâu Azollaceae (theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ), nó là loại bèo được dùng nhiều nhất cùng với A. filiculoides, A. mycrophylla trong những Azolla được biết : A. africana, A. anabaena, A. caroliniana, A. imbricata, A. japonica, A. mexicana, A. nilotica, A. rubra. Công lao của bèo là mang trong cục bướu ở rễ một loại rong lam (algue bleu-vert) nửa vi khuẩn nửa thực vật, gọi là Anabaena azollae Strasb., vi khuẩn vì cấu trúc, thực vật vì có khả năng quang học tổng hợp. Trong số hơn ba chục Anabaena thường được miêu tả, A. variabilis là loại được khảo cứu tường tận nhất.
 
   
 Azolla (5)                                      Anabaena (5)

Rong lam Anabaena có khả năng cố định đạm khí , chế tạo protein từ khí quyển, quang hợp thán khí CO2 và nước ra glucid. Dưới hình thức những sợi nhỏ, dài, quấn quít nhau, nó là một dãy tế bào cá thể nằm trong một cái bao mỏng, xung quanh bao bọc một lớp chất nhầy. Xen lẫn trong dãy nầy, ở những khoảng cách đồng đều, là những tế bào có bao tương đối dày hơn, gọi là những dị bóng (heterocyste). Chính ở trong các dị bóng nầy mà nhiệm vụ cố định đạm khí được thực hiện. Nhờ những dẫn xuất của cuộc chuyển hóa các glucid như pyruvat, isocitrat, glucose-6-phosphat,… rong lam có đủ khinh khí H2 để chợp lấy đạm khí N2 ở thể tự do làm thành khí ammoniac NH3 qua các tác dụng của một enzym gọi là nitrogenase. Ở ngay trong dị bóng, khí ammoniac được biến hóa thành glutamin để chuyển qua các tế bào thực vật dưới dạng glutamat và amin acid (6). Một điều đáng chú ý là rong lam không thể nuôi trồng ở thể tự do. Nhiều phòng thí nghiệm đã thành công tách chiết nhiều mẫu từ bèo dâu tán nghiền nhưng không có mẫu nào thực hiện được công cuộc cộng sinh. Giả thuyết được nghĩ đến là mỗi khi ra khỏi môi trường đặc biệt trong lòng bèo dâu, rong lam mất hết những tính chất cộng sinh (9). Nói một cách khác, rong lam chỉ đạt được những tính chất ấy một khi xâm nhập vào lòng bèo dâu Azolla.
Hai câu hỏi làm bận lòng các nhà khảo cứu : Tại sao những vi khuẩn chỉ cộng sinh với một loại cây nào đó thôi ? Khảo xét cặp Rhizobium-rau đậu, họ nhận ra một tác động qua lại giữa những glycoprotein phát tiết từ các rễ rau đậu và những polysaccharid màng vi khuẩn. Chắc chắn những polysaccharid ở Rhizobium tự do trong chất thừa nhận những glycoprotein ấy (gọi là lectin) tuy người ta chưa biết cơ chế rõ ràng. Hướng khảo cứu những năm gần đây là cặp đôi những vi khuẩn và rau đậu hay cây cối trong thiên nhiên chưa hề cộng sinh với nhau.  Câu hỏi thứ nhì là nitrogenase ở Rhizobium chẳng hạn chỉ vận dụng ở môi trường nồng độ dưỡng khí CO2 kém, làm sao có tác động trong bướu ấy là nơi tiêu thụ nhiều dưỡng khi ? Người ta có thể giải thích sự kiện kỳ lạ nầy khi tìm ra được trong bướu một hóa chất có nhiệm vụ đem dưỡng khí lại cho vi khuẩn đồng thời điều hòa dưỡng khí làm sao cho có áp lực nhỏ trong bướu. Vì cấu trúc và nhiệm vụ gần giống huyết bào tố trong máu, người ta gọi nó là leghemoglobin (leg như légumineuse, rau đậu). Cũng mang nguyên tố Fe trong mình như hemoglobin, nó nhuộm bướu màu hồng đỏ, nhưng cấu trúc khác nhau tùy loại rau đậu (8).
Cuộc cộng sinh thao diễn theo chu kỳ phát triển bèo dâu và rong lam. Khi lá bèo còn non, ở đỉnh lá đã thấy lơ thơ vài sợi rong tí hon nằm cạnh, chưa có dị bóng. Khi lá bèo lớn dần lên, những hốc nhỏ cũng dần dần được tạo ra trong lá để nắm giữ rong. Trong hốc, một số lông gồm có nhiều tế bào nhỏ, gây nên một sự cọ xát liên gục giữa bèo và rong. Những sợi rong cuốn lại thành cuộn, nhờ một màng chất dính bao bọc bên ngoài, bám vào thành hốc. Dị bóng thành hình, tăng số và lớn lên. Khi lá bèo đến độ trưởng thành, dị bóng đạt 30% (sau cùng có thể lên đến 45%) những tế bào ở sợi. Vào lúc nầy, rong lam chiếm toàn diện tích hốc, nhưng cũng là lúc nó bắt đầu chấm dứt phận sự tổng hợp quang học, không phát triển nữa và bước vào một trạng thái im lìm, bất động cho đến ngày lá bèo vàng úa rơi xuống đáy ruộng, thoái hoá, phân hủy để cống hiến chất đạm cho cây lúa.

Trong 30 năm gần đây, giới khoa học chú trọng nhiều đến bèo dâu và rong lam. Về măt cấu trúc, amin acid, protein (23) đã được xác định trong bèo, lectin trong rong, trong bèo. Trong số 18 amin acid tìm thấy, nhiều nhất là glutamic và aspartic acid, theo sau là leucin, ít nhất là methionin, tryptophan và cystein (19). Các amin acid giảm hạ trong bóng tối và môi trường nitrat NO3, tăng gia với ánh sáng và môi trường ammonium NH4. Rong chứa đựng chất sắc phycocyanin (12), allophycocyanin, phycoerythrocyanin (17,22) tương quan với hoạt động cố định chất đạm, caroten một nguồn provitamin A cho đồ ăn gia súc (27). Ngoài ra, bèo biết tổng hợp gibberellin, cytokinin như isopentenyl adenin, isopentenyl adenosine, cis- và trans-ribosyl zeatin, polyphenol, ferredoxin. Người ta biết phân tử ferredoxin mang thêm nguyên tố Mo là một trong hai protein cấu thành nitrogenase.
Từ lâu, ngay cả trước lúc người ta hiểu biết cơ chế cố định chất đạm, bèo dâu đã được dùng làm phân bón, nhưng chỉ ở một địa hạt giới hạn là Đông Nam Á, vùng ruộng lúa nước. Bên Trung Quốc, bèo dâu được trồng từ thế kỷ 17, đặc biệt ở các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông. Ở Việt Nam, người ta phỏng chừng bèo dâu đã có mặt từ nhiều thế kỷ hay lâu hơn nữa nếu tin ở huyền thoại. Thường người nông dân đi lượm bèo hoang ở ruộng, đem về trồng trong các ao sâu không quá 1m, đã dọn sạch từ mùa xuân trước và chứa toàn nước mưa. Các bờ ao phải được cào quét mọi rác rưới, lắm lúc có hàng rào tre chống gió và ánh nắng gao gắt mùa hạ. Mẫu bèo được ươm trong các khuôn tre nhỏ, nới rộng dần theo cuộc sinh trưởng của bèo. Thường bèo được nuôi với phân heo khô, tán bột, trộn với tro rơm. Bèo lớn lên trong lúc người nông dân sửa soạn, cày bừa ruộng. Cấy xong là bèo được thả vào ruộng. Bèo dâu là một loại cây mảnh dẻ, phải thận trọng khi vận dụng để khỏi nát và cũng không nên để khô héo ngoài nước. Không được vứt nó xuống ruộng bừa bãi mà phải nghiêng rổ trong nước rồi lấy tay khẻ quậy cho bèo nhẹ nhàng rời rổ trôi vào ruộng (5).

Rong lam cố định chất đạm

Có nhiều cách rải bèo nhưng phương pháp chắc chắn nhất là đặt nó ở trung tâm thửa ruộng, xung quanh dựng một cái đê nhỏ làm bằng rạ trộn với đất để bèo khỏi phân tán trước khi bám vào nước.. Những đê nhỏ nầy, như khuôn tre truớc đây trong ao, được nới dần theo mức bành trướng của bèo. Ở Hải Dương, năm 1927, 120kg bèo (khoảng 6 triệu cây) phủ kín sau 46 ngày một diện tích lớn gấp 250 lần diện tích lúc đầu là 580 m2. Cuộc nảy nở theo chiều ngang của bèo không quấy rầy chút nào sự phát triển thẳng đứng của cây lúa. Trái lại, khi bao trùm mặt ruộng một lớp dày, bèo ngăn cản nước bốc hơi, đỡ mất công dẫn thủy nhập điền, đồng thời làm trở ngại việc phát triển dòi muỗi cùng các loài tảo có hại, từ đấy đỡ mất công nhặt tảo, diệt trùng. Cũng như ở mọi cuộc nuôi trồng khác, ngoài chuyện bảo vệ lượng nước đầy đủ (rễ bèo phải chạm đáy ruộng nhưng đừng quá nhiều  để khỏi vướng vào bùn), nhiệt độ vừa phải (trung bình giữa 16 và 22°), còn cần phải tiêu diệt các loài sâu bọ như muỗi đỏ (chironome), bướm ống (pyrale),… Ở Thái Bình, vì thiếu những chất diệt trùng như DDT, sau khi rải tro lên mặt bèo, người ta thường dùng lưới cho ngập bèo xuống nước một đêm (5,6). Viện Sinh vật học Tp Hồ Chí Minh kiếm cách dùng vi khuẩn sanh bệnh như Bacillus thuringensis để khử trùng (4). Suốt mùa đông, bèo tiếp tục sinh trưởng. Qua xuân, khi nhiệt độ lớn dần, bèo đổi từ màu xanh qua hồng, xám, đen rồi thối nát, phân tán dưới đáy ruộng thành phân, lúc bông lúa bắt đầu chớm nở. Trung bình, năng suất lúa tăng 53% mỗi ha, 27% nhờ phân chuồng, 26% nhờ  bèo dâu. Tính trong một năm, bèo dâu cống hiến 300-350 kg chất đạm / ha (6) , hay mỗi ngày gần 1kg chất đạm / ha (2)  tương đương với số lượng chất đạm thu lượm được với các rau đậu khác như đậu tằm, đậu răng ngựa. Một ưu điểm của bèo so với phân chuồng là qua vụ sau, lúa còn được hưởng chất đạm còn lại của cuộc cộng sinh.

Trong những thập niên 60-70, phong trào làm bèo dâu ở Thái Bình, phục vụ thâm canh năng suất lúa đã phát triển khá mạnh : trên 70% diện tích lúa chiêm xuân, liên tục qua nhiều năm, đều được phủ kín một lượt bèo, 100% riêng ở hai huyện Hưng Hà và Đông Hưng, đặc biệt được phủ hai lượt bèo ở hợp tác xã Vũ Thắng, lá cờ đầu về thâm canh tăng năng suất lúa của tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, theo tác giả bài báo (2) nhận thấy, nhìn chung phong trào sản xuất bèo dâu các tỉnh miền Bắc nước ta tiến triển còn chậm chạp, mặc dù bèo dâu là một giải pháp cần thiết trong vụ sản xuất đông-xuân. Một bài tính dễ chứng minh : tỉnh Thái Bình với 175.000 ha trồng  lúa nước, nếu không có bèo dâu thì hằng năm phải dùng ít nhất 2 triệu tấn phân chuồng, tức phải có 2 triệu con lợn mà ở thời điểm nầy chỉ đếm có 4 vạn con ! Trong nhiều chủ trương kỹ thuật đã được đề nghị để đáp ứng những đặc tính sinh vật của bèo dâu, đáng để ý là một lực lượng lao động chuyên môn làm bèo vì thấy rõ bèo dâu làm dễ nhưng không phải ai cũng làm được.
Đằng khác, tuy tỉnh Thái Bình hồi đó đã có 9 trại chuyên môn nhân giống bèo ở 7 huyện và 60 trại ở các vùng trong huyện, miền Bắc vẫn thiếu một trại giống, ruộng giống chuyên, lượng lao động chuyên, vật tư - kỹ thuật chuyên phục vụ cho sản xuất bèo nên phong trào làm bèo dâu không khả quan. Môt số kinh nghiệm kỹ thuật cũng đã được tổng kết và nâng cao. Vụ tốt nhất của bèo dâu là tháng giêng, ít sâu bệnh, nhưng cũng là tháng có nhiệt độ thấp nhất, cần áp dụng hai biện pháp để khắc phục tình trạng : "đổ ải đến đâu, thả bèo dâu đến đó", nhờ thế bèo dâu có thể lợi dụng được chất màu dễ tiêu  và một nhiệt lượng lớn do đất ải tỏa ra ; dùng tro mộc rắc phủ kín lên mặt bèo trong những ngày có sương muối và gió bấc mạnh để tăng cường chống rét cho bèo (2). Ngoài ra, những thời gian phơi ải, kế hoạch đổ ải, kỹ thuật nuôi bèo cũng đã được học hỏi và áp dụng, góp phần nâng cao diện tích bèo dâu toàn tỉnh. Sau nhiều năm, tiến bộ kỹ thuật nầy có được áp dụng rộng rãi trong cả nước như mong muốn chưa ? Vào lúc vấn đề môi trường sinh thái đang được đặt ra khắp nơi, phải chăng nên nghĩ lại việc dùng bèo dâu làm phân bón thay cho hóa chất mặc dầu cách sử dụng bèo dâu có phần phức tạp hơn.
Phân xanh thay thế hóa chất

Trên mặt đất, rong lam không phải độc nhất có khả năng cố định đạm khí. Từ lâu, người ta đã biết hàng chục vi khuẩn, nấm tia có tính chất ấy, sống một mình trong đất hay cộng sinh với cây cỏ. Rhizobium là vi khuẩn thuộc loại độc bào kết hợp với các cây rau đậu. Ở đậu nành,, vi khuẩn mang tên Rhizobium japonicum. Trong phòng thí nghiệm Sinh hóa hữu cơ và Sinh học công nghệ ở Paris, một thời chúng tôi đã bỏ công thử tổng hợp rhizobitoxin, một chất phytotoxin thiên nhiên hiện diện rất ít trong bướu rẽ cây đậu nành, có khả năng ức chế enzym cystathionase, mở đường dẫn tới những chất kháng sinh, chống nấm, trị ung thư. Bên cạnh Rhizobium, một vi khuẩn khác cũng đã được nói đến là Frankia (8), hình sợi, thuộc loại nấm tia, cộng sinh với những cây có hoa, trong những cục bướu như Rhizoboium. Cách thức xâm nhập phát triển của vi khuẩn nầy ở cây có phần khác hơn chút ít. Bên Rhizobium, tế bào vi khuẩn theo đường dây hình ống xâm nhập vỏ rễ cây, dính vào các mô phân sinh của rễ, biến hoá cả về mặt hình thái lẫn sinh lý thành một hình thể gọi là bacteroid, nơi diễn biến cuộc cố định chất đạm. Với Frankia, vi khuẩn tiến vào vỏ rễ cây dưới hình thức những sợi, có khi cấu tạo thành bọng, túi hình cầu hay hình trứng là hình thể tương đương với bacteroid.
Đặc sắc những bướu của Frankia là có thể xuất hiện ở rễ cũng như ở thân, ở các rau đậu như Sesbania rostrata, S. grandiflora (cây so đủa), Pueraria phaseoloides (loại có củ lớn), Aechynomene afraspera phần lớn bên châu Phi, cũng như trên các cây lớn loại phi lao như Casuarina rumphiane, C. curinghaminane bên Senegal, C. esquisetifolia, cây dương bên nước ta. Ông Hoàng Gia Diêm, nghiên cứu sư ở cơ quan khảo cứu vi khuẩn Frankia chiết xuất từ bướu cây C. junghuniane gốc Thái Lan. Sau nầy ông là đồng tác giả một cuốn sách về  những cây cố định đạm khí (8). Ngoài ra, các loại Leucaena, Acacia, Prosopsis,… cũng đã được chú ý đến. Cuộc cộng sinh Frankia - S. rostrata (9) cống hiến chất đạm chỉ kém chút ít cặp A. pinnata - A. azollae, khoảng 50-150 kg / ha một mùa. Bên phần những cây phi lao Casuarina, qua lá rụng thành phân, trồng 3.000 cây / ha, mỗi năm cũng thu lượm được 150-200 kg chất đạm. Chúng còn cống hiến một lợi ích khác là làm màn chắn gió và gắn chặt cồn đồi bị xói mòn. Ở Senegal, nhiều cồn biển đã được cây nầy bảo vệ. Còn bên Trung Quốc, dọc một bờ biển dài 3.000 km, rộng 0,5-5 km, cây trồng đã chiếm một triệu ha cồn cát. Nhiều phòng thí nghiệm, đặc biệt của cơ quan khảo cứu Pháp ORSTOM bên châu Phi đang xúc tiến cuộc khảo cứu về vi khuẩn Frankia (8).
Bên phần bèo dâu thì cuộc khảo cứu cũng đuợc mở rộng. Một mặt, các cây Azolla khác được đem thử nghiệm : A. caroliniana, A. filiculoides,  A. mexicana,…thường được xem như rau hoang vô dụng, có khi nguy hại, bây giờ được đem ra thử không những với lúa mà còn với nhiều cây khác như những khoai đậu (tarot) bên đạo Hawai chẳng hạn (6). Mặt kia, nguời ta tìm những ứng dụng khác của bèo dâu và rong lam. Vì chứa đựng protein trong lá, bèo dâu là một thức ăn tốt cho cá (24), gà con (11,26), động vật nhai lại (23). Đem ủ kị khí, bèo dâu cống hiến khí methan (21,14). Sinh khí có thể đạt đến 189 l / kg và xác bèo dùng làm phân bón. Trong số kim loại có mặt trong bèo, nếu Fe và Mn không có ảnh hưởng đáng kể, Cd và Ni tăng gia năng suất khí khi nồng độ không quá cao, Pb có tác dụng tai hại lên bèo ủ (28). Những nhà khảo cứu Trung Quốc còn tìm ra vàng Aụ(III) trong nhân rong lam (26). Bèo dâu là một nguyên liệu để sản xuất quang học khinh khí, dưỡng khí và khí ethylen (25). Khinh khí cũng có thể chế tạo từ bèo dâu qua một vi khuẩn tách chiết từ rễ, Rhodopseudomonas, nuôi cấy trong khoai tây (20). Bên phần rong lam, đem cố định trên polyvinyl, polyurethan, hay alginat thì không những ổn định được tác động nitrogenase mà còn tăng cường tốc độ cố định đạm khí, tốc độ sản xuất khinh khí và khí ammoniac (13,15) . Rong lam tách chiết từ bèo còn có khả năng kết dính máu nhờ các lectin  nhưng tính chất nầy bị trypsin phá hủy và cũng có thể bị fucose, rhamnose , fructose, galactose ức chế.
Năm 1980, trong chiếc tàu vũ trụ Soyouz 37, Phạm Tuân, nhà du hành và nghiên cứu Việt Nam đến nay độc nhất, cùng Victor Gorbako, bạn đồng hành Liên Xô, đem ra không gian một mớ bèo hoa dâu trong số nhiều loại thực vật khác đã được chọn lựa như chlorella, spirulin, lúa mì, bắp cải, cà chua,…theo những tiêu chuẩn : có cường độ quang hợp cao để bảo đảm nhu cầu khí của người, có hệ số trao đổ khí phù hợp với hô hấp của người ; có năng suất cao, có khả năng sinh trưởng và sinh sản nhanh ; có khối lượng cơ thể bé để tránh gây mất cân bằng sinh thái lúc bị chết đi, có bộ phận sử dụng làm thức ăn chiếm tỷ lệ lớn ; có thành phần sinh hóa phù hợp với khẩu phần thức ăn của người và không quá phức tạp về mức độ công nghệ chế biến thức ăn ; và có khả năng thích nghi với điều kiện sống trong con tàu vũ trụ, thích hợp với phương pháp trồng trong vũ trụ như trồng trong nước theo phương pháp công nghiệp. Song song với những mục tiêu khoa học, kinh tế, trong ấy tìm cách thực hiện một hệ thống sinh thái hoàn toàn khép kín trong môi trường nhân tạo của con tàu vũ trụ là một điểm quan trọng, đem bèo dâu ra không gian trong tầm mắt các nhà khoa học ta là một dịp thuận lợi để thu lượm các dòng bèo có năng suất cao, cố định đạm tốt, chịu nhiệt độ cao, chống chịu với sâu bệnh. Các nhà khảo cứu Việt Nam chắc đang tiếp tục nghiên cứu về quang hợp, hô hấp, cố định đạm, thành phần sinh hóa môi trường dinh dưỡng, hệ vi sinh vật, siêu cấu trúc dưới kính hiển vi điện tử,… của bèo dâu (3). Sách, báo đã thấy xuất hiện (14,18). Như vậy ta cùng hòa mình với thế giới đang xúc tiến tìm kiếm những phân xanh thay thế hóa chất trong một phong trào lớn mạnh được mệnh danh "cuộc cách mạng xanh".
Thông tin Khoa học và Công nghệ 4(26) (1999) 116-21, có bổ túc

Tham khảo
1- Bài viết của cụ Nguyễn Công Tiễu (theo thư tịch của Kim Phan) (5)
- Bèo hoa dâu dùng làm phân bón, Imp. Thần Nông Báo, Hà Nội (1930)
- Sách làm ruộng, Imp. Tonkinoise, Hà Nội (1928)
- Những điều bí mật về bèo hoa dâu, một thứ cây dùng làm phân bón, Imp. Ngô Tử Hạ, Hà Nội (1934)
- Khảo cứu về bèo hoa dâu, Khoa Học số 9, 13, 14, 20, 85, 86, 87, 88, 89
- L’azolle cultivée comme engrais verts, Bull. Econ.Indochine , Série B, th.4 (1930)
- Conservation de l’azolle en saison chaude, Bull. Econ.Indochine (1934) 1318-20 ; th.1-2(1936)
2- Nguyễn Xuân Tuân, Mấy kinh nghiệm về phát triển bèo dâu, phục vụ thâm canh lúa của tỉnh Thái Bình, Tạp chí Hoạt động Khoa học 9 (1979) 6-7,19
3- Nguyễn Hữu Thước, Thí nghiệm bèo dâu trong vũ trụ, Đoàn Kết trích báo N.D. 8 (1980)
4- V. Labeyrie, Azolla pinnata, Bull.Infor.Doc. AAFV th.6 38 (1981) 11
5- Kim Phan, L’Azolla pinnata, plante miracle des rizières du Vietnam, Biofurur th.5 (1982) 11-17
6- Pernette Langley-Danysz, Recherches sur l’azolla, Biofutur th.5 (1982) 19
7- Đào Thế Tuấn, Un engrais vert : l’azolle, Pour la Science th.3 65 (1984) 22-3
8- Y. Dommergues, B. Dreyfus, Hoang Gia Diem, E. Duhoux, Fixation de l’azota et agriculture tropicale, La Recherche th.1 (16) 162 (1985) 22 ; Y. Dommergues, Hoang Gia Diem, E. Duhoux, Les arbres fixation d’azote, Tủ sách Espace 34 (1998)
9- Catherine Allais, Sesbania rostrata, l’africaine à la conquête du monde, La Recherche th.5 (19) 199 (1988) 672
10- Claudine Franche, Azolla, une orientale plusieurs fois centenaire, La recherche, th.5 (19) 199 (1988) 674
11- B.P.R. Subudhi, P.K. Singh, Nutritive value of the water fern Azolla pinnata for chicks, Poult. Sci. (2) 57 (1978) 378-80
12- J.H. Becking, M. Donze, Pigment distribution and nitrogen fixation in Anabaena azollae, Plant Soil (1-2) 61 (1981) 203-26
13- M. Brouers, D.O. Hall, Hydrogen production, ammoniac production and nitrogen fixation by free and immobilized cyanobacteria, Comm. Eur. Communities [Pep.] EUR 10024,  Energy Biomass (1985) 387-92
14- Vu Van Vu, W.F. Sang, Wong Fong, J.W. Kijne, K. Planque, R. Kraayenhof, Effects of temperature, pH and bound nitrogen on photosynthesis and nitrogen fixation of Azolla pinnata (Xanh, Vietnam) and Azolla filiculoides Lam, Photosynthetica (1) 20 (1986) 67-73
15- M. Brouers, D.O. Hall, Ammonia and hydrogen production by immobilized cyanobacteria, J. Biotechn.(5-6) 3 (1986) 307-21
16- L.J. Querubin, P.F. Alcantara, A.O. Princesa, Chemical composition of three Azolla species (A. caroliniana, A. microphyllia, and A. pinnata) and feeding value of azolla meal (A. microphyllia) in boiler ration II. Philipp. Agric. (4A) 69 (1986) 479-90
17- O.D. Bekasova, A.A. Mutuskin, S.V. Zore, Content and structural organization of phycobilin pigments in the nitrogen-fixing of cyanobacterium, Anabaena azolla, Biofizika (2) 33 (1986) 270-4
18- Nguyen Huu Thuoc, Photosynthesis and nitrogen fixation in the Azolla-Anabaena azollae symbosis, Nauka : Moscow, USSR (1988) 152 tr. 
 19- H. El-A.Weam, A. Khogali, Protein amino acid composition in six species of Azolla, Delta J. Sci. (4) 11 (1987) 2059-69
20- S.P. Singh, S.C. Srivastava, K.D. Pandey, Photoproduction of hydrogen by a non-sulfur bactarium isolated from root zones of water fern Azolla pinnata, Int. J. Hydrogen Energy (6) 15 (1990) 40-6
21- S.A. Abbasi, P.C. Nipaney, G.D. Schaumberg, Bioenergy potental of eight common aquatic weeds, Biol. Wastes (4) 34 (1990) 35-66
22- L.G. Erokhina, Composition and content of phycobiliproteins in the symbiotic nitrogen-fixing cyanobacterium Anabaena azollae from various Azolla fern species, Fiziol. Rast. (4) 38 (1991) 742-53
23- A. Dewanji, Amino acid composition of leaf proteins extracted from some aquatic weeds, J. Agric. Food Chem. (8) 41 (1993) 1232
24- D. Das, K. Sikdar, A.K. Chatterjee, Potential of Azolla pinnata as biogaz generator and as fish-feed, J. Environ. Health (3) 36 (1994) 186-91
25- E. Tel-Or, A. Rozen, E. Bar, H. Arad. Hydrogen photoproduction by Azolla and Anabaena azollae, J. Mar. Biotechnol. (1) 34 (1996) 52-6
26- J. Zhao, D. Shi, Y. Zhang, Bioaccumulation of Au (III) by cyanobacteria Anabaena azollae, Chin. Sci. Bull. (13) 43 (1998) 1119-24
27- A. Lejeune, J. Peng, E. Le Boulenge, Y . Larondelle, C. Van Hove, Carotene content of Azolla ands its variations during drying and storage treatments, Animal Feed Sci. Technol.(3-4) 84 (2000) 295-301
28- A. Arora, A. Pabby, P.K. Singh, Heavy metal accumulation by Azolla spp., Contaminated Soils 8 (2003) 39-47

            ©  http://vietsciences.free.frr  và http://vietsciences.org    Võ Quang Yến

Page 2 of 3