Mua loại nào ?
Khi muốn mua một chiếc kính hiển vi và chúng chưa hiểu rõ hết thì nên tìm người quen biết về kính hiển vi để hỏi cho rõ. Kính phải đáp ứng được nhu cầu công việc, nhu cầu học hỏi cũng như thú vui của mình. Đừng nên vội vã mua sai kính làm chúng ta bực mình và tệ hơn nữa là không thỏa mãn nhu cầu công việc.

Các bước cơ bản trong việc mua kính:
- Tim hiểu về kính
- Dùng kính để làm gì cụ thể: hạn chế bớt các chức năng kỹ thuật (là yếu tố giá cả)
- Và sau cùng là quyết định mua kính mới hay kính cũ
Ngay lúc đầu chúng nên xác định mua kính hiển vi “thường” hay loại kính hiển vi stereo. Yếu tố phân biệt này thường bị hiểu lầm là kính hiển vi stereo là kính có hai thị kính (binocular) . Kính stereo hoạt động như kính lupe, hình trong kính không đảo chiều như trong kính hiển vi và mỗi thị kính (ocular) sẽ nhận một hình từ vật kính (objective) điều khiến hình nổi 3 chiều. Kính này có độ phóng đại không cao, chỉ ở vào khoảng 6 – 40 lần , đôi khi đến 100 lần. Ra ngoài phạm vi này hình sẽ mờ không còn nhận được chi tiết gì cả.
Khi đã xác định mua kính hiển vi “thường” dùng quan sát các vật thể sinh học, chúng nên chọn các yếu tố kỹ thuật thích hợp cho nhu cầu. Loại đơn giản nhất là loại chúng ta thường thấy trong các phòng thực tập môn sinh học tại các đại học, sau đó là loại xài trong phòng thí nghiệm cho công việc hàng ngày (y khoa hoặc sinh học). Sau cùng là các loại kính có thể trang bị thêm, thay đổi và các loại kính chuyên dùng cho công việc nghiên cứu. Cách phân biệt theo ứng dụng này không nhất thiết phải được tuân thủ, vì kính xài trong phòng thí nghiệm hay kính trong các phòng thực tập vẫn có thể dùng với mục đích nghiên cứu. Một loại kính ở cấp độ đơn giản hơn kính trong các phòng thực tập sinh viên là loại kính dành cho học sinh trung học. Kính được chế tạo chắc chắn, trang bị đầy đủ đáp ứng được nhu cầu trong các giờ sinh học. Nên tránh mua các loại kính được thiết kế lỏng lẻo, không theo một chuẩn nào cả (như DIN) và thường được bán với tiêu đề là kính dùng cho học sinh .. Loại này chúng ta có thể xếp vào dạng đồ chơi cho trẻ em và không thích hợp cho các ứng dụng.
Các loại kính cho học sinh, sinh viên là các loại kính thuộc dòng kính dành cho phòng thí nghiệm. Tuy nhiên chúng được trang bị đơn giản hơn (thị kính , vật kính, nguồn ánh sáng), trang thiết bị cơ thì hoàn toàn không khác biệt. Kính dùng nghiên cứu là loại kính được thiết kế dạng module, tức là chúng có thể được trang bị thêm , thay đổi tùy theo nhu cầu ứng dụng. Với loại kính này , người dùng có thể thay đổi nguồn ánh sáng tùy ý như khi từ trên xuống , khi từ dưới lên …
Mua kính
Với kính hiển vi , nhiều người thường không để ý đến nguồn ánh sáng, độ chính xác của các thiết bị cơ cũng như độ bền của kính. Kính tốt, ngoài thị kính và vật kính thì các thành phần cơ học phải bảo đảm được độ chính xác, bền chắc, ít phải tu sửa trong nhiều năm. Kính rẻ tiền thường là một sự mâu thuẫn trong giá cả và chất lượng. Có những món hàng, sản phẩm người ta không bao giờ có thể chế được vừa chính xác , vừa bền vừa chắc chắn mà lại … vừa rẻ!
Độ phóng đại, độ phân giải, cấp độ vật kính (objective) , nguồn ánh sáng
Độ phóng đại của kính hiển vi là sự phối hợp giữa độ phóng đại của vật kính (objective) và thị kính (ocular) . Vật kính tạo thành một hình thật trong thân kính, ở một vị trí nhất định. Thị kính chiếu hình này (phóng đại) lên hệ thần kinh mắt. Độ phóng đại của vật kính (objective, 40:1, hoặc 40x ) đem nhân với độ phóng đại của thị kính (ocular, 10x) sẽ là độ phóng đại của kính hiển vi. Trong trường hợp này có nghĩa là 40 x 10 = 400 lần.
Nếu trong thân kính hiển vi còn một thấu kính , chúng ta phải nhân tiếp với số phóng đại này. Thí dụ số phóng đại của thấu kính là 1,25, thì tổng số lần phóng đại là 40 x 10 x1, 25 = 500 lần.
Tuy nhiên, tổng số lần phóng đại của kính hiển vi không nói lên được chất lượng của kính. Về kỹ thuật, với thị kính và vật kính chất lượng thấp người ta vẫn tạo ra hình với độ phóng đại thật lớn, nhưng những hình này không có chất lượng về màu sắc, độ bén, chúng không khác gì những hình chụp bị mờ, không còn thấy các chi tiết trong đó .
Khẩu độ: quan trong hơn độ phóng đại là khẩu độ của vật kính. Đây là con số từ 0,07 đến 1,30 ( tương tự máy chụp hình với những số khác hơn) . Con số này càng lớn , thì kính hiển vi càng có khả năng chiếu các vật thể càng rõ và chi tiết hơn, điều kiện là thấu kính hội tụ phải có khẩu độ tương tương.
Các vật kính thông thường thường có thông số sau : Vật kính: 4 x :0,07 hoặc 10 x : 0,22-0,3 hoặc 40 x:0,65 hoặc 100 x : 1,25. Không phải khẩu độ lớn lúc nào cũng tốt ! Thí dụ vật kính 40 x phối hợp với khẩu độ lớn hơn 0,65 sẽ không cho ra kết quả tốt, khi kiếng lam nhỏ (kiếng đậy lên vật xét nghiệm) có độ dầy không chính xác là 0,17 mm, điều rất thường xảy ra ! Vật chiếu qua đó sẽ mất đi độ rõ , không còn sắc nét, màu nhòa …
Vật kính (objective) có khẩu độ bằng 1 hoặc lớn hơn 1 thường được gọi là vật kính nhúng chìm. Giữa đầu của vật kính và kính lam nhỏ (dầy 0,17mm) thường được nhỏ vào một giọt dầu để vật kính nhúng vào đó. Nếu không có giọt dầu này hình chúng ta thấy trong kính hiển vi sẽ nhòa , không rõ.
Thị kính (ocular, eyepiece)
Được chế tạo đơn giản hơn vật kính, thị kính chỉ có nhiệm vụ phóng đại hình đã được tạo ra, chúng không có khả năng chỉnh sửa cho tốt hơn, rõ hơn, nhưng có thể làm hình trở nên tệ hơn ! vì vậy vật kính và thị kính phải được phối hợp ăn khớp với nhau. Một yếu tố thực tiễn là góc độ của hình, góc độ càng lớn chúng ta sẽ thấy một tấm hình càng rộng khi nhìn vào kính hiển vi.
Độ phóng đại cần thiết:
Tổng số lần phóng đại, qua sự phối hợp của vật kính và thị kính nên nằm vào khoảng 500 – 1000 lần so với khẩu độ của vật kính. Với vật kính có mức phóng đại từ 2,5 đến 16 lần thì tổng số lần phóng đại có thể nhỏ hơn con số này. Ngoài ra nếu số lần phóng đại thấp hơn 500 lần thì khả năng phân giải của vật kính bị bỏ phí (lãng phí). Chúng ta có thể thấy thêm nhiều chi tiết nếu tận dụng hết khả năng phóng đại của vật kính. Khi độ phóng đại lên trên 1000 lần, chúng ta sẽ thấy nhiều vùng trống (empty), chúng ta sẽ không thấy thêm chi tiết nào và những chi tiết chúng ta đã thấy ở mức phóng đại thấp có khả năng sẽ bị nhòa đi. Mức phóng đại cao nhất có thể chấp nhận được đối với kính quang học ở vào khoảng 1300 lần. Con số này là ranh giới cho các loại kính quang học từ rẻ tiền đơn giản cho đến các loại kính đắt tiền dành cho nghiên cứu. Nếu chúng ta thấy ai quảng cáo bán kính quang học với độ phóng đại 2000 lần, thì 1. là người bán hàng không hiểu , 2. họ đang tìm cách gạt bạn để bán kính…
Thí dụ thông số kỹ thuật kính hiển vi Biorit của Bresser Germany
Typ: Transmission: nguồn ánh sáng dưới lên
Head: Monocular: một mắt kính (thị kính)
Magnification 20x – 1280x : phóng đại
Eyepieces WF 5x, WF 10x, WF 16x (Ø 20 mm): thị kính widefield 5 x , 10 x 16 x (3 thị kính dùng thay đổi)
Barlowlens 2x : thấu kính (phóng đại hai lần)
Objectives 4x, 10x, 40x (achromatic): vật kính 4x , 10x, 40x
Illumination with dimmer LED-rechargeable/AC
Colorfilterwheel red, green, yellow, blue, matt
Camera resolution 640 x 480 Pixel: độ phân giải máy chụp
Camera magnification* (approx.) 4x - 145x / 10x - 377x / 40x - 1508x: độ phóng đại của máy chụp
Dimensions (LxHxW) 200 x 300 x 145 mm: kích thước
Weight 1,6 kg • 1.6 kg: trọng lượng
Dòng máy này có trang bị thêm PC ocular , dùng lưu hình từ kính hiển vi vào máy tính !
Độ phóng đại cao nhất : vật kính x thị kính x thấu kính = 16 x 40 x 2 = 1280 lần
Máy móc thiết bị
