




Vụ lúa mùa-thu đông năm nay, các hộ nông dân ở 3 huyện Cầu Kè, Trà Cú và Châu Thành (Trà Vinh) rất vui mừng vì đã ứng dụng chế phẩm sinh học Ometar khống chế được dịch rầy nâu hại lúa, giảm chi phí 10 lần so với việc phun thuốc hóa học.
Đặc biệt chế phẩm Ometar sử dụng trừ rầy nâu lúc lúa đang trổ là rất tốt vì không ảnh hưởng tới năng suất lúa. Trong khi đó, nếu lúc lúa đang trổ có rầy nâu phải phun thuốc hóa học thì ảnh hưởng tới sự thụ phấn của hạt, gây hạt lép nhiều và giảm năng suất. Ông Nguyễn Văn Hồng Anh, Trưởng Phòng Khoa học-Công nghệ thuộc Sở Khoa học công nghệ tỉnh Trà Vinh cho biết, Sở được Ủy ban Nhân dân tỉnh Trà Vinh phê duyệt đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng chế phẩm sinh học Ometar phòng trừ rầy nâu hại lúa và chuyển giao quy trình sản xuất nhanh chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar ở quy mô nông hộ tại tỉnh Trà Vinh”. Đề tài này hiện đang được triển khai thí điểm tại 3 huyện: Cầu Kè, Trà Cú và Châu Thành - đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái khác nhau. Tại huyện Cầu Kè thực hiện trên lúa cao sản, huyện Trà Cú trên trà lúa mùa và huyện Châu Thành trên vùng lúa-tôm, trong thời gian hết năm 2010. Đặc biệt là chế phẩm sinh học Ometar tác động rất tốt đối với vùng đất sản xuất lúa-tôm. Hiện tại, hai xã trọng điểm lúa-tôm là Long Hòa và Hòa Minh (huyện Châu Thành) đã được chuyển giao qui trình sản xuất nhanh chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar ở quy mô nông hộ. Cán bộ địa phương và nông dân của 2 xã Long Hòa và Hòa Minh rất phấn khởi khi được tiếp nhận “quy trình sản xuất nhanh chế phẩm trừ sâu sinh học Ometar ở quy mô nông hộ” vì mô hình lúa-tôm không thể sử dụng thuốc hóa học. Riêng 25ha lúa-tôm của hai xã Long Hòa và Hòa Minh hiện đang ứng dụng chế phẩm sinh học Ometar, sau khi phun đợt đầu vào lúc lúa 40 ngày tuổi đã khống chế được rầy nâu cho tới nay và lúa đang làm đòng. Sau nhiều năm nghiên cứu và chọn lọc, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lộc, Trưởng Bộ môn Phòng trừ sinh học thuộc Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và cộng sự đã nghiên cứu, ứng dụng thành công hai chủng nấm xanh và trắng có tác dụng phòng trừ sâu hại cho cây trồng và rầy nâu hại lúa. Từ chủng nấm xanh và nấm trắng, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lộc đã cho ra đời hai chế phẩm sinh học là Ometar (nấm xanh) và Biovip (nấm trắng) ứng dụng rộng rãi trừ sâu, rầy hại lúa tại Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang... Chế phẩm có hiệu lực bền lâu, thuốc có tác dụng lây lan mầm bệnh từ con rầy đã chết sang con rầy non mới nở trong một vụ lúa, nên chỉ phun một lần có thể duy trì hiệu quả trừ rầy cho suốt vụ. Ở giai đoạn lúa ngậm sữa có thể phun chế phẩm Ometar một lần để trừ bọ xít nếu lúa bị bọ xít tấn công. Chế phẩm Ometar còn được ứng dụng để trừ bọ cánh cứng hại dừa. Theo tính toán, chi phí sản xuất 100 gói chế phẩm Ometar theo quy mô nông hộ chỉ tốn 752.100 đồng (nếu trừ hao hụt với tỷ lệ nhiễm tạp tối đa là 10%, còn lại 90 gói), như vậy 1 gói 500 gam có giá thành 8.400 đồng, 1 ha sử dụng 5 gói là 42.000 đồng/lần phun. Một vụ lúa nông dân phun 2 lần chỉ tốn chi phí 84.000 đồng/ha, giảm rất nhiều so với phun thuốc hóa học bảo vệ thực vật để diệt rầy nâu. Riêng 6 xã của 3 huyện ở Trà Vinh, nông dân tự sản xuất chế phẩm Ometar nên tỷ lệ nhiễm tạp rất ít (1-5%), vì vậy mà giá thành thực tế tại tỉnh chỉ gần 40.000 đồng/ha cho 1 lần phun, nhưng tác dụng lại rất lớn đối với mùa màng./.
| ||
| Theo TTXVN/Vietnam+ |


1. Giá trị sử dụng: Cây Neem là loại cây gỗ trung bình, đường kính 40- 50 cm cao tứ 12-15 mét. Cây Neem là cây đa tác dụng: Gỗ làm hàng mộc, hàng mỹ nghệ, có thể làm bột giấy, ván dăm, ván ghép thanh ..vv..v. Lá và quả Neem dùng làm phân, thuốc trừ sâu, xà phòng diệt khuẩn.
2. Điều kiện gây trồng
* Điều kiện về đất.
Cây Neem ( Xoan chịu hạn ) sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, ẩm, thoát nước tốt. Các loại đất có thành phần cơ giới nặng, thoát nước kém hay đất bí chặt không thích hợp cho việc trồng Neem.
* Điều kiện về khí hậu.
+ Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24oc- 30oc. Ở nơi có nhiệt độ trung bình tháng từ 20oC, cây Neem sinh trưởng quanh năm.
+ Lượng mưa trung bình năm từ 600mm-1200 mm.
+ Độ ẩm không khí trên 70 %.
3. Chọn giống và thu giống.
Thu hái hạt giống trên các cây mẹ có tuổi trên 5 năm, tán cân đối, cành ngang, lá có màu xanh đậm, thân thẳng.
Quả Neem chín không tập trung. Trên một chùm quả có cả quả đã chín cả quả còn non. Quả chín rải rác từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 7 dương lịch. Chín tương đối tập trung trong tháng 6 dương lịch.
Khi quả chín màu quả chuyển từ màu xanh nhạt sang màu vàng, thịt quả mềm có mùi thơm và vị ngọt. Chỉ thu hái các quả đã có màu vàng còn ở trên cây bằng sào hay thu nhặt quả rụng dưới đất. Không được thu hái quả còn xanh hay làm rụng cả chùm quả.
Quả đem về cho vào bao tải ủ thêm 24 giờ cho thịt quả mềm. Sau đó cho vào rổ chà nhẹ cho nát thịt quả và rửa sạch bằng nước nhiều lần. Khi hạt đã sạch, rải hạt ra nong hay cót phơi chỗ râm mát. Tuyệt đối không được phơi hạt trực tiếp trên nền gạch hay xi măng dưới ánh nắng trực xạ.
Hạt chế biến xong nên sử dụng ngay. Nếu không sử dụng được ngay, thì thời gian bảo quản không được quá 30 ngày trong điều kiện bảo quản thông thường. Một ki lô gam hạt giống tiêu chuẩn có từ 2.200 - 2.400 hạt. Tạo được 1.800 - 1.900 cây giống.
4. Cây con
Cây con được ươm trong bầu đất. Vỏ bầu ươm cây bằng polyethylen. Kích thước phẳng 13*18 cm. Phía đáy có đục 8-10 lỗ tròn D = 6 mm.
Hạt nứt nanh đem gieo vào bầu, khi gieo chú ý cắm nghiêng hạt 45o, đầu nhọn hạt xuống dưới, độ sâu gieo hạt khoảng 1cm. Gieo xong tủ rơm rạ lượng 1kg/ m2 mặt bầu. Sau 3-4 ngày gieo hạt thì dỡ bỏ rơm rạ che tủ, kiểm tra thấy bầu nào không có cây dùng hạt đã ủ nứt nanh dặm lại ngay. Rơm rạ che tủ phải xử lý qua nước vôi trong để tránh sâu bệnh hại.
Tiêu chuẩn cây con xuất vườn.
- Tuổi cây: 3 tháng ( 90 ngày kể từ ngày gieo hạt)
- Cây cao H = 30-50 cm , đường kính cổ rễ D = 0,3 - 0,4 cm
- Tỷ lệ D/H = 1/100 - 1/150.
5. Trồng rừng
* Xử lý thực bì:
Khả năng cạnh tranh của cây Neem kém, nên phải xử lý thực bì toàn diện. Hoàn thành xử lý thực bì trước khi trồng 1 tháng.
* Cày toàn diện với độ sâu lật đất 20-25 cm
* Cày theo băng với độ sâu lật đất 20-25 cm
Sau khi cày đất xong tiến hành đào hố theo qui cách 40cm* 40cm*40cm. Công tác đào hố phải hoàn thành trước khi trồng 10-15 ngày để có điều kiện kiểm tra qui cách hố trồng. Nơi có điều kiện nên bón lót mỗi hố 1 kg phân chuồng hoai và trộn đều trước khi trồng cây.
Cây Neem có thể trồng toàn diện thuần loại hoặc trồng hỗn giao theo băng rộng.
+ Trồng toàn diện: Bố trí cự ly 3m*4 m ( Cây cách cây 3 mét, hàng cách hàng 4 mét). Mật độ trồng 840 cây/ha
+ Trồng hỗn giao: Neem + Cây phù trợ theo băng rộng tỷ lệ hỗn giao 4+7 ( trồng 8 hàng keo + 14 hàng Neem). Cự ly cây cách cây 2 mét, hàng cách hàng 4,5 mét). Mật độ 1.100 cây/ ha ( 700 cây Neem + 400 cây phù trợ)
* Trồng cây.
- Cho lớp đất mặt xuống đáy hố, nếu có bón lót phân chuồng hoai thì phải trộn đều trước khi trồng cây.
- Cây trồng phải đặt ngay ngắn giữa hố. Sau đó dùng dao lam rạch một đường thẳng từ trên miệng túi bầu xuống đáy túi bầu, từ từ lột bỏ túi bầu PE ( tránh làm vở bầu đất ), dùng tay hoặc cuốc lấp đất lại và giẫm chặt xung quanh gốc. Chú ý không lấp đầy hố mà lấp đất cách miệng hố từ 1- 2 cm để cây trồng tận dụng được nước mưa và mùn, nhưng vẫn không bị đọng nước sau mỗi trận mưa.
6. Chăm sóc.
Cày theo hàng cách gốc cây 0,5 mét. Cuốc cỏ đường kính 1 mét, xới đất sâu 5-10 cm vun gốc cao 10 cm, tấp cỏ vào gốc cây để giữ ẩm.Số lần chăm sóc: 1 lần. Thời gian chăm sóc: đầu mùa khô để kết hợp phòng chống cháy. Bón thúc 50 gam NPK/ cây kết hợp khi xới cỏ vun gốc. Trồng dặm các cây bị chết để đảm bảo mật độ qui định. Thời vụ trồng dặm theo thời vụ trồng rừng hàng năm.
Rừng trồng phải cử người bảo vệ chống sự phá hại của người và gia súc cũng như việc đốt lửa vô ý thức gây cháy rừng
Page 1 of 7