Monday, Feb 06th

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Trồng trọt Cây công nghiệp

Cây công nghiệp

Một số nét cơ bản về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Neem

1. Giá trị sử dụng: Cây Neem là loại cây gỗ trung bình, đường kính 40- 50 cm cao tứ 12-15 mét. Cây Neem là cây đa tác dụng: Gỗ làm hàng mộc, hàng mỹ nghệ, có thể làm bột giấy, ván dăm, ván ghép thanh ..vv..v. Lá và quả Neem dùng làm phân, thuốc trừ sâu, xà phòng diệt khuẩn.


2. Điều kiện gây trồng

            * Điều kiện về đất.

Cây Neem ( Xoan chịu hạn ) sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, ẩm, thoát nước tốt. Các loại đất có thành phần cơ giới nặng, thoát nước kém hay đất bí chặt không thích hợp cho việc trồng Neem.

* Điều kiện về khí hậu. 

+ Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24oc- 30oc. Ở nơi có nhiệt độ trung bình tháng từ 20oC, cây Neem sinh trưởng quanh năm.

+ Lượng mưa trung bình năm từ 600mm-1200 mm.

            + Độ ẩm không khí trên 70 %.

            3. Chọn giống và thu giống.

Thu hái hạt giống trên các cây mẹ có tuổi trên 5 năm, tán cân đối, cành ngang, lá có màu xanh đậm, thân thẳng.

Quả Neem chín không tập trung. Trên một chùm quả có cả quả đã chín cả quả còn non. Quả chín rải rác từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 7 dương lịch. Chín tương đối tập trung trong tháng 6 dương lịch.

Khi quả chín màu quả chuyển từ màu xanh nhạt sang màu vàng, thịt quả mềm có mùi thơm và vị ngọt. Chỉ thu hái các quả đã có màu vàng còn ở trên cây bằng sào hay thu nhặt quả rụng dưới đất. Không được thu hái quả còn xanh hay làm rụng cả chùm quả.

Quả đem về cho vào bao tải ủ thêm 24 giờ cho thịt quả mềm. Sau đó cho vào rổ chà nhẹ cho nát thịt quả và rửa sạch bằng nước nhiều lần. Khi hạt đã sạch, rải hạt ra nong hay cót phơi chỗ râm mát. Tuyệt đối không được phơi hạt trực tiếp trên nền gạch hay xi măng dưới ánh nắng trực xạ.

Hạt chế biến xong nên sử dụng ngay. Nếu không sử dụng được ngay, thì thời gian bảo quản không được quá 30 ngày trong điều kiện bảo quản thông thường. Một ki lô gam hạt giống tiêu chuẩn có từ 2.200 - 2.400 hạt. Tạo được 1.800 - 1.900 cây giống.

           4. Cây con

Cây con được ươm trong bầu đất. Vỏ bầu ươm cây bằng polyethylen. Kích thước phẳng 13*18 cm. Phía đáy có đục 8-10 lỗ tròn D = 6 mm.

Hạt nứt nanh đem gieo vào bầu, khi gieo chú ý cắm nghiêng hạt 45o, đầu nhọn hạt xuống dưới, độ sâu gieo hạt khoảng 1cm. Gieo xong tủ rơm rạ lượng 1kg/ m2 mặt bầu.  Sau 3-4 ngày gieo hạt thì dỡ bỏ rơm rạ che tủ, kiểm tra thấy bầu nào không có cây dùng hạt đã ủ nứt nanh dặm lại ngay. Rơm rạ che tủ phải xử lý qua nước vôi trong để tránh sâu bệnh hại.

Tiêu chuẩn cây con xuất vườn.

- Tuổi cây: 3 tháng ( 90 ngày kể từ ngày gieo hạt)

- Cây cao H = 30-50 cm , đường kính cổ rễ  D = 0,3 - 0,4 cm

- Tỷ lệ D/H  = 1/100 - 1/150.

5. Trồng rừng

* Xử lý thực bì:

Khả năng cạnh tranh của cây Neem kém, nên phải xử lý thực bì toàn diện. Hoàn thành xử lý thực bì trước khi trồng 1 tháng.

* Cày toàn diện với độ sâu lật đất 20-25 cm

            * Cày theo băng với độ sâu lật đất 20-25 cm

            Sau khi cày đất xong tiến hành đào hố theo qui cách 40cm* 40cm*40cm. Công tác đào hố phải hoàn thành trước khi trồng 10-15 ngày để có điều kiện kiểm tra qui cách hố trồng. Nơi có điều kiện nên bón lót mỗi hố 1 kg phân chuồng hoai và trộn đều trước khi trồng cây.

Cây Neem có thể trồng toàn diện thuần loại hoặc trồng hỗn giao theo băng rộng.

+ Trồng toàn diện: Bố trí cự ly 3m*4 m ( Cây cách cây 3 mét, hàng cách hàng 4 mét). Mật độ trồng 840 cây/ha

+ Trồng hỗn giao: Neem + Cây phù trợ theo băng rộng tỷ lệ hỗn giao 4+7 ( trồng 8 hàng keo + 14 hàng Neem). Cự ly cây cách cây 2 mét, hàng cách hàng 4,5 mét). Mật độ 1.100 cây/ ha ( 700 cây Neem + 400 cây phù trợ)

* Trồng cây.

- Cho lớp đất mặt xuống đáy hố, nếu có bón lót phân chuồng hoai thì phải trộn đều trước khi trồng cây.

- Cây trồng phải đặt ngay ngắn giữa hố. Sau đó dùng dao lam rạch một đường thẳng từ trên miệng túi bầu xuống đáy túi bầu, từ từ lột bỏ túi bầu PE ( tránh làm vở bầu đất ), dùng tay hoặc cuốc lấp đất lại và giẫm chặt xung quanh gốc. Chú ý không lấp đầy hố mà lấp đất cách miệng hố từ 1- 2 cm để cây trồng tận dụng được nước mưa và mùn, nhưng vẫn không bị đọng nước sau mỗi trận mưa.

6.  Chăm sóc.

            Cày theo hàng cách gốc cây 0,5 mét. Cuốc cỏ đường kính 1 mét, xới đất sâu 5-10 cm  vun gốc cao 10 cm, tấp cỏ vào gốc cây để giữ ẩm.Số lần chăm sóc: 1 lần. Thời gian chăm sóc: đầu mùa khô để kết hợp phòng chống cháy. Bón thúc 50 gam NPK/ cây kết hợp khi xới cỏ vun gốc. Trồng dặm các cây bị chết để đảm bảo mật độ qui định. Thời vụ trồng dặm theo thời vụ trồng rừng hàng năm.

            Rừng trồng phải cử người bảo vệ chống sự phá hại của người và gia súc cũng như việc đốt lửa vô ý thức gây cháy rừng

Suy thoái rừng luồng - nhìn từ góc độc kỹ thuật

Luồng là cây truyền thống của Thanh Hóa, phân bố chủ yếu ở các huyện miền núi. Luồng có nhiều công dụng: Làm nhà ở, sử dụng trong kiến trúc, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nguyên liệu cho công nghiệp giấy sợi, v.v... Rừng luồng có tác dụng phòng hộ và duy trì cân bằng sinh thái. 


Luồng dễ trồng, sau 7 năm cho khai thác lứa đầu. Chi phí trồng, chăm sóc, ít tốn kém, thu hoạch hàng năm. Tuổi thọ của luồng khá cao, nếu chăm sóc bảo vệ tốt có thể tới hàng trăm năm. 

Tính đến nay toàn tỉnh đã trồng được 68.000ha luồng, mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng chục triệu cây. Trong đó diện tích đã có từ 1972 trở về trước là 11.000ha. Riêng trong 10 năm phát động cao trào trồng luồng (1972-1982) đã trồng thêm được 28.000ha, đạt trên 50% mục tiêu phát động (50.000ha). Riêng năm 1973 năm đầu thực hiện cuộc vận động đã trồng được 7.900ha. Các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lạc được coi là vùng trọng điểm luồng. Ngoài ra luồng còn được trồng nhiều ở Cẩm Thủy, Thạch Thành và một số địa phương thuộc vùng bán sơn địa trong tỉnh. 

Là cây có vị thế kinh tế quan trọng, nhưng luồng Thanh Hóa cũng đã từng trải qua bao thăng trầm, có thời kỳ do giá cả quá thấp đến mức "không bằng một cây mía", hay do đói kém mà cây luồng thì "không thể luộc lên để ăn được", nên đã bị người dân ở một số địa phương phá bớt đi để lấy đất trồng lương thực. 
Ngày nay, nhờ chính sách mở cửa và hội nhập, nên cây luồng đã có mặt trong Nam ngoài Bắc, sản phẩm chế biến từ cây luồng được xuất khẩu sang các nước trong khu vực và thế giới, cây luồng đang lấy lại vị thế là cây có giá trị kinh tế cao ở miền núi, "cây xóa đói giảm nghèo", cây nguyên liệu chủ lực của nhà máy giấy Châu Lộc trong tương lai. 

Tuy nhiên, hiện nay nhiều rừng luồng đang trên đà suy thoái, giảm cả về chất lượng và năng suất, mặc dù diện tích luồng không ngừng tăng lên. Tính sơ bộ cho thấy, nếu khai thác 70% diện tích hiện có, năng suất khiêm tốn 600cây/ha, thì mỗi năm sản lượng khoảng 24triệu cây, nhưng thực tế trong nhiều năm bình quân cũng chỉ trên dưới chục triệu cây. Hiện nay luồng loại I, II giảm đáng kể, loại IV, V, VI và cây sâu bệnh, còi cọc, cụt ngọn, cây không có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng chiếm đa phần. 

Nguyên nhân tình hình trên chủ yếu là do không thực hiện nghiêm túc các yêu cầu kỹ thuật từ khâu trồng, chăm sóc, đến khai thác, sử dụng rừng luồng. Cụ thể là: Nhiều rừng luồng đã bị khai thác quá mức thay vì khai thác chọn, khai thác không đi đôi với tái sinh, khai thác cả cây non, cây để giống, gốc chặt để quá cao. Các cây sâu bệnh, cụt ngọn, còi cọc, không được chặt bỏ, giây leo cỏ dại lấn át, không gian dinh dưỡng bị hạn chế, ảnh hưởng đến sinh trưởng của luồng v.v... 

Quy trình trồng xen cây thân gỗ được đề ra từ những năm 70 của thế kỷ trước nhưng không được chỉ đạo thực hiện, tập quán trồng luồng quảng canh vẫn là chủ yếu, trong chỉ đạo ít chú ý đến chất lượng và thâm canh theo hướng bền vững gắn với môi trường sinh thái. 

Về khách quan, một mặt do đất đai đã bị thoái hóa theo thời gian, mặt khác luồng là cây có bộ rễ ăn nông, lá luồng có đặc điểm là chậm phân hủy, chất mùn sau phân hủy của rễ và lá luồng rất nghèo dinh dưỡng, thảm thực vật dưới tán rừng luồng khá mỏng, nên tác dụng chống rửa trôi rất hạn chế. 

Mật độ rừng luồng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến không gian dinh dưỡng và tuổi thọ của rừng luồng. Phần lớn diện tích luồng được trồng thời kỳ những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước, mật độ được quy định lúc đó là 400 gốc/ha. Trải qua hàng chục năm phát triển, bụi luồng ngày càng lan rộng ra xung quanh, nên khả năng quang hợp bị hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng phát triển của luồng. 

Để khắc phục tình trạng trên, cần thiết phải triển khai một số biện pháp trước mắt: 

Thứ nhất: Cần triển khai ngay các biện pháp hành chính và kỹ thuật như: nghiêm cấm khai thác luồng trong mùa măng, cấm lưu thông măng luồng trong thời kỳ ra măng hữu hiệu,(khoảng từ mồng 5- 15/7). Chỉ được sử dụng măng cuối vụ, gọi là lứa măng rươi và măng chét, tức lứa măng ra khoảng thời gian từ 25/7- 30/8 và tới 15/9. Cấm chặt cây non, để lại cây to làm giống với tỷ lệ hợp lý. Tiến hành làm vệ sinh cho từng bụi luồng, bao gồm chặt bỏ các cây còi cọc, sâu bệnh, cụt ngọn, cây không có giá trị sử dụng và giá trị kinh tế. Đào bỏ các gốc chặt quá cao, phát dọn dây leo cỏ dại xung quanh bụi luồng, khai thác hết cây già cỗi, có thể cuốc xới, vun gốc, bón phân cho những bụi luồng đã và đang suy thoái nhưng còn khả năng hồi phục, kiên quyết trồng lại hoặc trồng dặm đối với những rừng luồng đã thoái hóa hoặc mật độ còn dưới 200bụi/ha, v.v... 

Thứ hai: Xây dựng một số mô hình về thâm canh luồng theo mục đích kinh doanh, như kinh doanh cây luồng hàng hóa, luồng nguyên liệu giấy, luồng kinh doanh măng, v.v... Mô hình về nông lâm kết hợp, trồng xen cây thân gỗ, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc dưới tán rừng luồng, từ đó tổng kết rút kinh nghiệm nhằm nhân ra diện rộng. 

Triển khai đợt tuyên truyền giáo dục về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, sử dụng rừng luồng theo hướng bền vững, phổ biến về nguy cơ suy thoái rừng luồng và cách nhận biết cho mọi người dân vùng trồng luồng. 

Thứ ba: Xây dựng quy ước, hương ước quản lý, bảo vệ, chăm sóc, khai thác sử dụng luồng phù hợp với tập quán, truyền thống, kinh nghiệm trồng, khai thác, sử dụng rừng luồng ở mỗi địa phương để vừa phát huy được sự quản lý của chính quyền cơ sở, vừa có sự tham gia và thực hiện tự giác của người dân. Đồng thời tiến hành rà soát, bổ sung về cơ chế, chính sách đối với cây luồng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển, kinh doanh cây luồng ngày càng đạt hiệu quả cao. 

Phát triển vùng luồng theo hướng bền vững và hiệu quả kinh tế cao vừa là đòi hỏi bức bách của cuộc sống, vừa là mục tiêu kinh tế chiến lược đối với Trung du miền núi và của cả tỉnh. Vì vậy, không thể để rừng luồng ngày càng suy thoái theo thời gian, mà phải lấy lại vị thế của cây luồng tỉnh Thanh đã từng một thời nổi danh.

 

Trương Văn Huy - Hội Khoa học Lâm nghiệp

Nguồn: 

http://www.khuyennongvn.gov.vn/e-khcn/suy-thoai-rung-luong-nhin-tu-goc-111oc-ky-thuat

Sử dụng phân hữu cơ sinh học một giải pháp nâng cao hiệu quả và bảo vệ vườn tiêu

Việt nam hiện nay là một trong những nước xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới, cạnh tranh vị trí nhất nhì với ấn độ. Theo hiệp hội hồ tiêu Việt nam (VPA) cho biết Việt nam đang được đánh giá là nhà cung ứng hồ tiêu lý tưởng nhất trên thế giới với giá cả và chất lượng cạnh tranh. Theo VPA, năm 2006 năng suất hạt tiêu của Việt nam có thể giảm do hạn hán nhưng nhờ diện tích cây trồng mở rộng nên nguồn cung cho xuất khẩu vẫn dồi dào và Việt nam vẫn giữ vị trí nước xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, với sản lượng trung bình đạt 100.000 tấn/ năm, chiếm 50% tổng sản lượng toàn cầu. Tính đến năm 2007 tổng diện tích hồ tiêu đang cho thu hoạch ở việt nam xấp xỉ 53.000 ha, trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm 51% diện tích hồ tiêu cả nước.


Bình Phước là một trong các tỉnh chủ lực có sản lượng tiêu xuất khẩu cao trên thế giới. Theo thống kê từ năm 2000 đến năm 2005 diện tích hồ tiêu của tỉnh Bình Phước có xu hướng tăng theo thứ tự 6.465 ha, 8,246 ha, 11.085 ha; Nhưng từ năm 2006 diện tích hồ tiêu giảm xuống còn 10.641 ha, đến năm 2007 diện tích lại tiếp tục giảm chỉ còn 10.045 ha; trong đó diện tích hồ tiêu cho thu hoạch theo thống kê từ năm 2000 đến năm 2005 tương ứng là 3.204 ha, 4.160 ha, 9.368 ha; đến năm 2006 thì diện tích tiêu cho thu hoạch giảm xuống còn 8.983 ha, năm 2007 cũng giảm còn 8.611 ha. Sản lượng hồ tiêu từ năm 2000 đến năm 2005 tăng lên theo thứ tự 10.020 tấn, 14.228 tấn, 22.680 tấn, nhưng đến năm 2006 sản lượng giảm xuống còn 21.305 tấn, năm 2007 tuy diện tích thu hoạch có giảm so với năm 2006 nhưng nhờ sự thay đổi phương thức canh tác hồ tiêu của các hộ nông dân nên suất tăng lên 21.736 tấn.

Từ lâu việc bón phân cho cây tiêu của bà con nông dân chủ yếu là dùng các loại phân hoá học bón quanh gốc cây tiêu dẫn đến tình trạng lớp đất mặt trở nên chai cứng, mất đi độ tơi xốp nên việc tưới và tiêu nước không có hiệu quả cao. Bên cạnh đó sự lạm dụng quá mức phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật có hoạt chất hoá học tạo nên tính kháng thuốc của nhiều loại sâu bệnh nguy hiểm, chính vì thế mà dịch bệnh dễ phát sinh, cây tiêu mất đi tính đề kháng với các nấm bệnh và môi trường. Trong khi đó các loại phân hữu cơ và đặc biệt là nguồn phân chuồng sẵn có từ chăn nuôi của hộ gia đình thì lại lại chưa sử dụng đến hoặc có sử dụng nhưng chưa đúng cách nên hiệu quả chưa cao.

Trước thực trạng đó, Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư tỉnh Bình Phước đưa ra giải pháp cụ thể để việc canh tác tiêu trên đất nhà được bền vững và có hiệu quả đó là làm điểm trình diễn mô hình tiêu áp dụng quy trình kỹ thuật sử dụng phân hữu cơ sinh học có phối trộn nấm đối kháng Trichoderma một cách cân đối với phân vô cơ.

Phân hữu cơ có vai trò hết sức quan trọng trong canh tác cây hồ tiêu, với các chức năng vừa cung cấp dinh dưỡng, vừa tăng khả năng giữ nước, giúp đất tơi xốp, tăng hiệu quả sử dụng phân khoáng đồng thời là môi trường tốt cho các loài vi sinh vật có ích phát triển tham gia tích cực phòng trừ nhiều loại bệnh hại rễ tiêu.

Đất trồng tiêu ở tỉnh nhà Bình Phước nói riêng và khu vực Đông Nam Bộ nói chung chủ yếu là hai loại đất; đất đỏ BaZan và đất xám. Cả hai loại đất này khi trồng tiêu cần phải bón bổ sung thêm vôi, lân và đặc biệt là cần chế độ bón phân hữu cơ cân đối, với các nguyên tố dinh dưỡng khác nhau theo nhu cầu dinh dưỡng của cây tiêu mới đảm bảo thâm canh cây tiêu bền vững và có hiệu quả.

Cụ thể quy trình bón phân hữu cơ sinh học cho cây tiêu đang được khuyến cáo: 
Lần 1: Bón sau khi thu hoạch trái , giúp cây phục hồi nhanh đảm bảo năng suất cho vụ sau. Bón phân hữu cơ sinh học và bổ sung đạm hoặc loại phân NPK có hàm lượng đạm cao, lượng bón có thể từ 1,5 -2 kg phân hữu cơ sinh học/ nọc tiêu. 
Lần 2: Bón thúc mầm hoa, ứng với lúc tiêu sắp hình thành gié hoa vào đầu mùa mưa khoảng tháng 5- 6 dl. Đợt này cần bón phân NPK có hàm lượng lân cao để kích thích cây ra hoa. 
Lần 3: Bón thúc gia tăng sự đậu trái của cây và phát triển trái non, ứng với lúc trái non đang hình thành và phát triển sau 1 tháng được thụ phấn. Đợt này nên bón bổ sung lượng phân hữu cơ từ 1- 1,5 kg/ nọc tiêu và kết hợp với phân NPK có hàm lượng Kali cao hoặc có thể bón bổ sung thêm phân Kali đơn. Giai đoạn này có thể sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng Kali cao (6 -30 -30, 10 – 0 – 50…) và có đủ vi lượng, đặc biệt là nguyên tốt Bo(B) để chống rụng trái.

Để giảm chi phí trong thâm canh vườn tiêu và tận dụng nguồn phân chuồng sẵn trong chăn nuôi của các hộ dân thì Trung tâm khuyến nông khuyến ngư đang khuyến cáo người dân nên sử dụng “phân hữu cơ tự tạo” bằng cách tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp như vỏ ca phê, vỏ trấu, xơ dừa, phân chuồng... đem phối trộn với chế phẩm Trichoderma và lân đem ủ hoai để bón cho cây đồng thời giảm luợng phân hóa học xuống nhưng năng suât cây trồng vẫn tăng, giúp bộ rễ tiêu phát triển khỏe, phòng trừ được một số bệnh nguy hiểm trên cây tiêu như bệnh chết nhanh, chết chậm.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Phước một số hộ nông dân đã biết sử dụng “phân hữu cơ tự tạo” và đưa phân hữu cơ vào thâm canh vườn tiêu rất có hiệu quả như hộ anh Nguyến Chiến Thắng ở xã Tân Lập, huyện Đồng Phú anh cho biết: trước kia chưa hiểu biết thì anh toàn sử dụng phân hóa học bón cho cây, từ khi anh tham gia các lơp tập huấn của khuyến nông anh đã biết cách ủ phân, sử dụng phân hữu cơ sinh học kết hợp với phân hóa học vào bón cho tiêu thì 3 năm nay vườn tiêu nhà anh phát triển rất tốt năng suất cao đạt từ 5-6 tấn/1300 nọc và ổn định qua các năm và đặc biệt là bệnh chết nhanh, chết chậm trên cây tiêu không xuất hiện nữa và chi phí về phân hóa học giảm đi nhiều, anh rất yên tâm với cách thâm canh vườn tiêu như hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Bắc trưởng Trạm khuyến nông huyện Bù Đốp là người trực tiếp hướng dẫn người dân thực hiện nói để giúp vườn tiêu khỏe, giảm thiểu được bệnh chết nhanh, chết chậm, cho năng suất cao và ổn định qua các năm thì dây là phương pháp rất tốt để hâm cnh vườn tiêu mà tất cả người dân trồng tiêu nên phải biết và áp dụng.

Tuy nhiện vẫn còn không ít các hộ dân vẫn chưa biết cách tận dụng nguồn phân chuồng từ gia đình vào trong sản xuất và chưa quan tâm đến phân hữu cơ sinh học vào thâm canh vườn tiêu mà đang còn quá lạm dụng phân hóa học với các hình thức bón khác nhau làm cho cây tiêu ngày càng suy kiệt. Do đó thiết nghĩ cần phải khuyến cáo sâu rộng hơn nữa đến các hộ dân trồng tiêu để giúp cây tiêu phát triển bền vững trên đất nhà Bình Phước.

Đào Thị Bình - Trung tâm KNKN Bình Phước

Kỹ thuật trồng rừng tràm

Cây tràm có nhiều loài và trong một loài lại có nhiều xuất xứ khác nhau. Ở những loài khác nhau và những xuất xứ khác nhau thì khả năng sinh trưởng, chống chịu các tác nhân gây hại như sâu bệnh, chuột cũng rất khác nhau.

 

I. Kỹ thuật xử lý thực bì và làm đất

1. Kỹ thuật xử lý thực bì

* Thực bì có thể chia làm 2 loại: 
+ Loại 1: thành phần thảm thực vật chủ yếu là cỏ năng, cỏ ống, cỏ mồm, cỏ bàng. Loại này có thể xử lý hoặc không xứ lý. 
+ Loại 2: thành phần chủ yếu là cây mua, tràm gió, dây chọi và một số dây leo cây bụi khác. Loại 2 nên xử lý trước khi làm đất. 
* Về xử lý thực bì có 3 cách: 
+ Thủ công: phát dọn toàn diện cỏ dại và cây bụi, gom lại và đốt. Nên tiến hành phát dọn vào đầu mùa khô, khoảng tháng 2 – 3. 
+ Xử lý bằng cơ giới: có thể sử dụng máy kéo có bánh lồng trục đất vào mùa nước rút khi mực nước ngập ngoài hiện trường còn khoảng 0,4 – 0,6m để nhấn chìm thực bì trong đất. + Kết hợp thủ công và cơ giới: sau khi phát đốt thực bì, sử dụng máy cày để cày lật đất từ 1 – 2 lần vào tháng 4 – 5.

2. Làm đất: có 2 cách làm đất

Lên líp nhẹ: tạo líp rộng 4 m; cao từ 0,2m – 0,3m; mương rộng tối đa 1,3m; có thể lên líp bằng thủ công hoặc bằng cơ giới tùy theo điều kiện sẵn có. 
Không lên líp: tận dụng mặt đất tự nhiên, tạo hệ thống rãnh thoát nước sâu 0,5m, rộng 1,5m; các rãnh mương cách nhau 10 – 15 m.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Mùa trồng rừng

+ Đối với cây con có túi bầu: tháng 5-6 hoặc tháng 11-12. 
+ Đối với những cây rễ trần: tháng 6-7 hoặc tháng 11 – 12. Trường hợp trồng sau mùa lũ, cần phải nhổ cây con khỏi vườn ươm và giâm cây trong nước sạch 7 – 10 ngày trước khi trồng để cây ra rễ con.

2. Kỹ thuật chọn cây con

- Cây rễ trần (tràm ta): cây cao 0,8-1m, đường kính cổ rễ >1cm, hệ rễ phát triển tốt, cây không bị cụt ngọn, tuổi cây 9 tháng - 1 năm. Trước khi trồng nhất thiết phải ngâm trong nước chảy, có mái che khoảng 7-10 ngày cho hệ rễ mới sinh phát triển dài 2-3cm. 
- Cây ươm trong túi bầu (tràm Úc): cây cao tối thiểu 30 cm, thân đã hoá gỗ, đường kính cổ rễ > 4mm, tuổi cây 2 tháng trở lên.

3. Mật độ trồng

- Đối với tràm ta: 20.000 – 30.000 cây/ha 
- Đối với tràm Úc: 10.000 cây/ha - 15.000 cây/ha

4. Kỹ thuật trồng

Trước khi trồng cần phải tạo lỗ có đường kính rộng 7 – 10cm, sâu 15- 20cm (dùng nọc hay bay để tạo lỗ) đối với vùng đất mềm. Còn những vùng đất khác thì nên đào hố kích thước 20 x 20 x 20 cm. Trồng xong phải giậm nhẹ xung quanh hố để cây đứng và rễ cây tiếp xúc với đất.

5. Chăm sóc

- Sau khi trồng 15 – 20 ngày, kiểm tra thấy tỷ lệ cây sống < 80%, thì phải trồng dặm. 
- Nếu trồng tràm để lấy gỗ thì không cần phải làm cỏ vun đất trong 2 – 3 năm đầu. 
- Khi rừng đã định hình (trên 3 năm), có thể phát dây leo, cây bụi, tỉa cành thấp tạo cho thân chính sinh trưởng. 
- Phòng chống sâu bệnh 
+ Có khoảng 12 loài côn trùng gây hại chủ yếu cho cây, nhất là Xén tóc đục thân, nhóm sâu hại ngọn tràm non, sâu cuốn lá tràm. Ngoài việc trồng hỗn giao, chú ý chăm sóc để cây có sức đề kháng cao. 
+ Phòng chống chuột: ngoài rừng nên phát sạch cỏ, cây bụi, những nơi trú ngụ của chuột xung quanh rừng. Nên kết hợp các biện pháp: cơ học, hoá học, sinh học để phòng chống chuột.

TTKNKNQG

CÁCH TRỊ BỆNH TRÊN CÂY CA CAO Ở VÙNG NƯỚC LƠ

Thời gian gần đây, có một số bệnh ở một số vùng trồng ca cao làm cây chết nhiều, chúng tôi thông tin cho bà con nắm bắt để có biện pháp xử lý kịp thời.

Nguyên nhân là do trong giai đoạn mùa nắng, ở cây con chúng ta tưới nước lợ, nước phèn, thường xuyên làm các mút đầu rễ của cây bị chết hoặc do trong quá trình chăm sóc tưới nước, phân bón cho cây mà quên việc đào rãnh phân cách, để các rễ của cây khác chèn vào làm bộ rễ ca cao cạnh tranh không lại, dẫn đến thoái hóa hư hại trầm trọng do giai đoạn từ trồng đến một năm tuổi rễ cây còn rất yếu, phục hồi chậm. Từ nguyên nhân trên làm cây suy kiệt ít phát triển. Khi mùa mưa đến cây phát triển chậm, lá già lẫn non đều bị cháy khô từ đầu đến nửa lá, phần còn lại vàng vọt, dẫn đến quang hợp hấp thu dinh dưỡng ít, ở bộ rễ đã hỏng nhiều cũng không hấp thu được dinh dưỡng, lại bị ẩm độ cao, sức đề kháng cây lại yếu nên đây là môi trường thuận lợi cho bệnh mốc sương phát triển, đó cũng chính là nguyên nhân gây hiện tượng cây chết nhiều ở giai đoạn cây con, khi trồng giữa hoặc cuối mùa mưa năm trước.

– Cách phòng trị: Việc cần thiết đầu tiên khi trồng ca cao vùng lợ là nên trồng cây vào đầu mùa mưa, với những vườn khi đã lỡ trồng rồi thì phải đào rãnh phân cách đường kính 0,6–0,8m x rộng 0,1m x sâu 0,2 – 0,3m, để cho rễ tạp không xâm nhập, kế đến nên bón cho mỗi hốc 0,1 – 0,2kg vôi để hạ phèn, mặn, sau đó tưới Hydrophos, agrispon để giải độc và kích thích rễ phục hồi nhanh. Trên tán cây phun thuốc Aliette, Follicur, Cuzate, Dipomat, Bonanaza, 2 lần cách nhau 3 ngày/lần để trị bệnh mốc sương và ngừa một số bệnh khác, cuối cùng là tưới phân bón lá HVP, KOMIX, MIMIC... làm tăng sự hấp thu dinh dưỡng qua lá, phụ tiếp việc kích thích rễ phát triển nhanh, nhằm hấp thu dinh dưỡng mạnh. Cách làm là phun phân giai đoạn lá đã xanh và phun mặt dưới lá, vì ở đó lá có nhiều khí khổng hoàn chỉnh, hấp thu dinh dưỡng tốt hơn.

Một số thông tin trên sẽ giúp ích cho bà con trong việc trồng mới hay chăm sóc ca cao xen trong vườn dừa và vườn cây ăn quả thêm thuận lợi.

Page 1 of 2

  • «
  •  Start 
  •  Prev 
  •  1 
  •  2 
  •  Next 
  •  End 
  • »