Thursday, Sep 09th

Last update:04:12:27 AM GMT

RSS
You are here: Trồng trọt Cây nông nghiệp

Cây nông nghiệp

Kỹ thuật trồng cây đu đủ

1. Thời vụ trồng

Miền Bắc: Vụ xuân: trồng tháng 2 - 4, vụ thu: trồng tháng 8 - 10.

Miền Trung: vụ xuân trồng vào tháng 12 - 1, vụ hè thu trồng tháng 5 – 6.

Miền Nam: trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (tháng 10 – 11).

 

2. Chuẩn bị cây con

- Hạt giống ngâm trong nước 2 – 4 giờ, vớt ra, ủ trong khăn ẩm 1 – 2 ngày.

- Đất gieo hạt: trộn đều 2 phần đất + 1 phần phân chuồng hoai mục, cho hỗn hợp vào các túi bầu kích thước 7 x 10 cm khoảng 2/3 túi (các túi bầu đã đục lỗ).

- Gieo hạt vào trong bầu đất: mỗi bầu gieo một hạt, sau đó phủ một lớp đất mỏng và tưới nhẹ.

- Khi cây con có 3 – 5 lá thật, cao 15 – 20 cm thì đem trồng .

3. Chuẩn bị đất trồng

- Chọn khu đất cao, thoát nước tốt, tầng canh tác dày, tơi xốp, tốt nhất là đất bãi bồi, pH thích hợp từ 6 – 6,5.

- Đào hố kích thước 40 x 40 x 40 cm; khoảng cách hàng 2,5 m, khoảng cách cây 2,0 – 2,5 m. Với khu đất thấp tiến hành lên luống, đắp ụ trồng đu đủ.

- Bón lót: lượng phân bón cho 1 hố: 30 – 35 kg phân chuồng hoai, 120 – 150g urê, 250 – 500g supe lân, 20 – 30g Kalisulfat. Trộn đều toàn bộ lượng phân trên với đất, bón vào hố trước khi trồng 1 tháng.

Đối với một số vùng đất đồi núi, đất chua (pH<6) cần bón lót vôi bột hoặc dolomit khoảng 200 g/hố.

4. Kỹ thuật trồng

Trước khi trồng 1 ngày, tưới nước đầy đủ cho cây con. Chọn những cây đủ tiêu chuẩn, mỗi hố trồng 1 cây. Lấp đất phủ qua phần cổ rễ, nén chặt xung quanh. Trồng cây xong phải tưới nước và giữ ẩm.

5. Chăm sóc sau trồng

a) Tủ gốc:

Vật liệu tủ gốc là rơm rạ, cỏ khô hoặc bùn phơi khô. Tủ gốc giúp giữ ẩm cho đất, che bớt nắng cho cây con, hạn chế đất bị bí chặt.

b) Tưới nước:

Đu đủ chịu hạn kém, đồng thời không chịu được úng, do vậy cần phải tưới nước đầy đủ vào mùa khô và thoát nước tốt vào mùa mưa. Nếu đất khô cây sinh trưởng phát triển chậm, lá nhanh vàng úa, rụng hoa và quả non, năng suất và chất lượng quả giảm. Đất quá ẩm cây dễ bị nhiễm các bệnh nấm gốc.

c) Bón phân thúc:

Lượng phân bón trung bình cho một cây:

- Năm thứ nhất: 
+ Lần 1: 80 - 100 g urê, 40 - 60 g Kalisulfat; bón sau trồng 2 tháng. 
+ Lần 2: 40 - 50 g urê, 80 - 120 g Kalisulfat; bón khi cây bắt đầu ra hoa 
+ Lần 3: 160 - 200 g urê, 250 - 500 g supe lân, 60 - 90 g Kalisulfat; bón sau khi thu hoạch quả lứa đầu

- Năm thứ 2: 300 - 400 g urê, 1000 - 1500 g supe lân, 300 - 400 g Kalisulfat; bón làm nhiều lần. 
Ở những vùng đất thiếu borax, định kỳ 1 tháng 1 lần phun axít boric nồng độ pha loãng 500 - 1.000 lần, phun mặt dưới lá.

d) Làm cỏ, xới xáo

Rễ cây đu đủ ăn nông nên phải xới nông, nhổ cỏ bằng tay để không ảnh hưởng đến rễ cây.

e) Cắm cọc giữ cây:

Vào thời kỳ cây đậu quả nhiều mà gặp gió bão có thể cắm cọc giữ cây và chặt bớt một số lá già gần gốc để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gẫy cây.

f) Tỉa cành, tỉa quả:

Ngắt bỏ những nhánh con mọc ra từ thân chính. Thời kỳ cây ra quả nhiều, cần tỉa bớt quả nhỏ, quả bị sâu bệnh, méo mó.

6. Phòng trừ sâu bệnh

- Sâu hại: bọ trĩ, bọ nhảy, rệp sáp, nhện đỏ, bọ xít, rầy mềm… 
- Bệnh hại: khảm vàng lá, đốm hình nhẫn (hay khảm vòng), héo rũ, thối gốc. 
- Đối với các sâu bệnh trên, biện pháp phòng cho hiệu quả tốt nhất là: 
+ Chọn cây giống khoẻ mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh; 
+ Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và chặt bỏ những cây bị bệnh virus; 
+ Làm sạch cỏ dại, thu gom lá già trong vườn đu đủ; 
+ Không nên trồng xen các loại rau cải, bầu bí, mướp trong vườn đu đủ. Hạn chế việc làm cây bị sây sát tạo vết thương cơ giới; 
+ Chăm sóc cây sinh trưởng phát triển tốt, khoẻ mạnh để tăng sức chống chịu với sâu bệnh; 
+ Có thể sử dụng một số loại thuốc như Ridomil, Daconil… để phòng trừ bệnh; Thianmectin 0,5ME, Confidor, Trebon… để phòng trừ côn trùng.

Theo tờ tin KNKNVN

Kỹ thuật trồng nấm sò

1. Thời vụ

Nấm sò có thể trồng quanh năm, nhưng mùa vụ thuận lợi nhất từ tháng 9 năm truớc tới tháng 3 năm sau. Nhiệt độ thích hợp với nấm sò: đối với nhóm chịu lạnh 13 - 200C; nhóm chịu nhiệt 24 - 280C.

 

2. Xử lý nguyên liệu

* Nguyên liệu: Chủ yếu là rơm rạ, bông phế thải, mùn cưa,…lượng rơm rạ tối thiểu là 300 kg mới đủ nhiệt để ủ. 

Xử lý nguyên liệu

- Làm ướt rơm rạ bằng nước vôi với tỷ lệ 4 kg vôi/1.000 lít nước. Ngâm rơm rạ trong nước vôi 15 - 20 phút rồi vớt ra để ráo nước. Ủ rơm bằng cách kê kệ ủ sao cho vuông vắn, có cọc ở giữa để thoát hơi, rải từng lớp rơm rạ lên kệ ủ rồi dẫm nhẹ, sau đó lấy nilon bọc xung quanh đống ủ để giữ nhiệt.

- Sau 3 ngày ủ rơm tiến hành đảo đống ủ, trong quá trình dỡ, cần kiểm tra độ ẩm đống ủ, nếu vắt nguyên liệu thấy nước chảy nhỏ giọt ướt vân tay là được. Nếu thấy khô, bổ sung nước trực tiếp vào rơm rạ, nếu ướt quá cần phơi rơm đến khi đảm bảo đủ độ rồi ủ lại như ban đầu.

- Ủ tiếp 3 ngày sau đó: Kiểm tra độ ẩm như lần 1, nếu đảm bảo yêu cầu thì đảo rơm rồi ủ lần 2. Sau 3 ngày dỡ đống ủ và băm rơm thành từng đoạn cỡ 10 – 15 cm rồi ủ lại. Hai ngày sau, kiểm tra lại đống ủ thấy rơm rạ đã chín đều và đủ độ ẩm thì tiến hành cấy giống. Nếu có điều kiện, hấp nguyên liệu trước rồi cấy giống trong phòng vô trùng sẽ hạn chế được tỷ lệ nhiễm bệnh ở nấm.

3. Cấy giống

* Chuẩn bị:

- Túi nilon kích thước 30 x 45 cm, bông nút, nút, chun. Túi nilon phải được gấp đáy. 
- Giống cấy: có mùi thơm dễ chịu, không có mùi chua, không có các đốm kì lạ.

* Đóng bịch, cấy giống:

- Cho nguyên liệu vào túi đã chuẩn bị, dùng tay dầm nhẹ rồi điều chỉnh lớp nguyên liệu đó dày 5 - 7 cm, sau đó rắc một lớp giống nấm xung quanh thành túi. Làm 3 lớp như vậy, lớp trên cùng rắc đều trên bề mặt (trừ khoảng miệng nút bông), sau đó lấy một lượng bông bằng miệng chén uống nước nút bông rồi quấn dây chun chặt nút bông.

- Yêu cầu: Bịch đã cấy giống căng tròn, độ nén vừa phải, trọng lượng của bịch 2,4 - 2,7 kg. Sau khi cấy giống, bịch giống đưa vào nhà ươm thoáng mát, sạch sẽ.

- Tỷ lệ cấy giống: 16 - 20 bịch/kg giống.

4. Ươm giống và rạch bịch

Sau khi cấy giống 20 - 25 ngày, kiểm tra để rạch bịch. Thấy sợi nấm đã ăn xuống đáy bịch thì tiến hành rạch bịch. Rạch 6-8 đường dài 4 – 6 cm, các đường rạch đều và so le nhau.

5. Chăm sóc và thu hái

* Chăm sóc

Sau khi rạch bịch 4 – 6 ngày chưa cần tưới nước vào bịch. Khi thấy nấm mọc ra từ các vết rạch, tuỳ theo lượng nấm nhiều hay ít, độ ẩm không khí cao hay thấp để điều chỉnh lượng nước tưới phù hợp (tưới nước dạng phun sương), tưới 4 - 6 lần/ngày.

* Tác nhân gây bệnh hại nấm

- Các loại nấm mốc xanh, đen, vàng thường xuất hiện sau khi cấy giống 7 ngày. Nguyên nhân do nguyên liệu ủ chưa đủ nhiệt, vệ sinh khu vực cấy giống không tốt, thời tiết nóng bức, thiếu độ thông thoáng hoặc giống bị nhiễm bệnh từ trước.

- Nhiễm khuẩn: do vi khuẩn làm hỏng mũ nấm hoặc quá trình tưới nước vào các vết rạch, do vệ sinh kém sau thu hái.

* Thu hái nấm

Thu hái nấm khi bầu nấm bằng chén uống nước nhỏ, lưu ý phải hái hết phần gốc trên bịch nấm. Mỗi lứa thu hái 3 - 4 đợt. Sau mỗi đợt thu hái 3 - 4 ngày không tưới, khi thấy tại những vết rạch xuất hiện quả thể nấm mới tưới nước. Thời gian thu hái nấm khoảng 30 - 45 ngày kể từ ngày hái đầu tiên.

TTKNKNQG

Đắk Lắk: Ứng dụng các biện pháp diệt trừ các loài dịch hại cho cây cà phê

Sau một thời gian nghiên cứu, ngành Bảo vệ thực vật tỉnh Đắk Lắk đã xác định được các loại dịch hại trên cây cà phê và đưa ra các giải pháp phòng trừ hữu hiệu nhằm giúp người trồng cà phên nâng cao năng suất, sản lượng, chất lượng cà phê và hạn chế ô nhiễm môi trường. 


Thạc sỹ Nguyễn Huy Phát, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Thực vật tỉnh cho biết, ngành đã phát hiện 16 loài dịch hại, tập trung ở 12 họ của 6 bộ côn trùng, trong đó có những loài sâu hại thường xuất hiện ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cà phê gây tác hại kinh tế nghiêm trọng làm giảm năng suất, chất lượng quả cà phê. Các loại dịch hại này chủ yếu là rệp sáp mềm xanh, rệp sáp hại quả, rệp sáp hại rễ, rệp muội, sâu đục thân, mọt đục cành, thân, đục quả cà phê. Ngành Bảo vệ Thực vật tỉnh cũng thu được 16 loài thiên địch, tập trung ở 10 họ của 6 bộ côn trùng. Những thiên địch chủ yếu được phát hiện trên vườn cà phê là bọ mắt vàng, bọ mạch nâu, ruồi ăn rệp và một số loài nhện. 

Qua thử nghiệm thành công, ngành Bảo vệ Thực vật tỉnh Đắk Lắk khuyến cáo bà con nông dân sử dụng các loại thuốc như Supracide 40ND, Cymerin 25EC có hiệu quả cao trong phòng trừ các loại rệp sáp hại quả, rệp sáp mềm xanh hại cho cây cà phê; đồng thời mở các lớp hướng dẫn người trồng cà phê ứng dụng rộng rãi chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM (dùng các loài thiên địch để tiêu diệt các loài dịch hại) trên cây cà phê, giúp cho bà con nông dân giảm được chi phí đầu tư, đạt hiệu quả kinh tế cao và hạn chế được sự phát sinh gây hại của các loài dịch hại trên cây cà phê, giảm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản, giảm ô nhiễm môi trường. 

Đặc biệt, từ năm 2007 trở lại đây, ngành Bảo vệ Thực vật tỉnh Đắk Lắk cũng đã nghiên cứu, điều tra, phân tích xác định 2 loài ve sầu hại cà phê tại Đắk Lắk có tên khoa học là: Dundubia spiculata Noualhier và loài Meimuna sp thuộc tộc Dundubiini, họ Cicadidae, bộ Hopmoptera. Mật độ ấu trùng ve tập trung nhiều ở tầng đất 20-70 cm (là tầng đất tập trung nhiều rễ tơ của cây cà phê). Sau khi thử nghiệm một số loại thuốc sinh học trong việc phòng trừ ấu trùng ve sầu, các cán bộ kỹ thuật xác định loại thuốc sinh học Metavina 90DP có nguồn gốc từ nấm Metahizium đạt hiệu quả nhất (tiêu diệt đạt trên 70%) lại ít gây ô nhiễm môi trường để phổ biến rộng rãi cho người trồng cà phê sử dụng.

 

Theo TTXVN

Chất điều hoà sinh trưởng

Qua kết quả trình bày của Lang (1961) thì auxin có thể thúc đẩy và ức chế sự khởi phát hoa nhưng ức chế phổ biến hơn thúc đẩy. Sự thúc đẩy thường thấy trong điều kiện cảm ứng quang kỳ mà liên quan đến ngưỡng của sự ra hoa. Tác động của auxin tùy thuộc rất lớn vào những yếu tố mà có thể có lợi hoặc bất lợi trong cùng một loài.

Thí dụ: Cây đậu nành Biloxi và cây Hyoscyamus: thì tác động của auxin tùy thuộc vào nồng độ. Ở nồng độ thấp thì sẽ thúc đẩy sự ra hoa nhưng ở nồng độ cao lại ức chế. Sự ức chế ra hoa ở nồng độ cao có lẻ không lạ bởi nó liên quan đến nhiều auxin ngăn cản kích thích sự sinh trưởng.

Sự ra hoa và biện pháp xử lý ra hoa xoài

Trong điều kiện tự nhiên ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, cây xoài thường ra hoa tự nhiên vào tháng 12-1 và thu hoạch tập trung từ tháng 4-5 (Trần Văn Hâu, 1997). 
Mặc dù cơ chế sự ra hoa xoài cho tới nay vẫn là điều bí ẩn! (Chacko, 1991), tuy nhiên những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra hoa xoài như giống, biện pháp canh tác, khí hậu, đặc điểm sinh lý của cây, đặc biệt là các chất điều hòa sinh trưởng rất được quan tâm nhằm có thể có tìm ra những biện pháp thích hợp để kiểm soát sự ra hoa và sản suất xoài một cách hiệu quả ở những thời điểm thích hợp trong năm.

Page 2 of 4